2019-12-31

Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (3)

cầu nguyện,tin Chúa,

Khi Đức Chúa Trời thực hiện công tác của mình, Ngài đến không phải để tham gia vào bất kỳ việc xây dựng hoặc phong trào nào, mà để thi hành chức vụ của Ngài. Mỗi lần Ngài trở nên xác thịt, đó chỉ là để hoàn tất một giai đoạn công tác và mở ra một thời đại mới. Giờ đây Thời đại Vương quốc đã đến, và việc đào tạo cho vương quốc. Giai đoạn công tác này không phải là công tác của con người, nó không phải để làm việc con người đến một mức độ cụ thể; mà chỉ là để hoàn tất một phần công tác của Đức Chúa Trời. Những gì Ngài làm không phải là công tác của con người, nó không phải để đạt được một kết quả nhất định trong làm việc con người trước khi rời khỏi thế gian; nó là để thi hành chức vụ của Ngài và hoàn thành công tác mà Ngài phải làm, đó là việc sắp xếp hợp lý cho công tác của Ngài trên đất, và qua đó trở nên vinh hiển. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể khác với của những người được Đức Thánh Linh sử dụng. Khi Đức Chúa Trời đến để làm công tác của Ngài trên đất, Ngài chỉ quan tâm đến việc thi hành chức vụ của Ngài. Đối với mọi vấn đề khác không liên quan đến chức vụ của Ngài, Ngài hầu như không tham gia, thậm chí đến mức nhắm mắt làm ngơ. Ngài chỉ đơn giản thực hiện công tác mà Ngài phải làm, và Ngài đặc biệt không quan tâm đến công tác mà con người phải làm. Công tác Ngài làm chỉ là công tác liên quan đến thời đại mà Ngài đang sống và đến chức vụ mà Ngài phải thi hành, như thể mọi vấn đề khác đều nằm ngoài phạm vi của Ngài. Ngài không trang bị cho mình kiến thức cơ bản hơn về việc sống như một con người, Ngài cũng không học nhiều kỹ năng xã hội hơn, cũng không trang bị cho mình bất kỳ điều gì khác mà con người hiểu. Mọi thứ con người phải sở hữu không hề làm Ngài bận tâm và Ngài chỉ đơn giản làm công tác là bổn phận của Ngài. Và như vậy, như con người nhận thấy, Đức Chúa Trời nhập thể bị thiếu kém rất nhiều đến nỗi Ngài thậm chí không chú ý đến nhiều điều mà con người phải có, và hơn nữa không có sự hiểu biết về những vấn đề như thế. Những điều như kiến thức thông thường về cuộc sống, cũng như các nguyên tắc điều chỉnh hành vi cá nhân và sự tương tác với những người khác, dường như không liên quan đến Ngài. Nhưng ngươi đơn giản là không thể cảm nhận được từ Đức Chúa Trời nhập thể một chút dấu hiệu của sự bất thường nào. Điều đó có nghĩa là, nhân tính của Ngài chỉ duy trì cuộc sống của Ngài như một người bình thường và lý trí thông thường của bộ não Ngài, cho Ngài khả năng phân biệt giữa đúng và sai. Tuy nhiên, Ngài không được trang bị thêm bất kỳ điều gì khác, mọi thứ đó đều là những thứ mà chỉ riêng con người (những loài thọ tạo) nên sở hữu. Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ để thi hành chức vụ của riêng Ngài. Công tác của Ngài nhắm đến toàn bộ thời đại, không phải đến bất kỳ một người nào hoặc một nơi nào mà là toàn bộ vũ trụ. Đây là phương hướng của công tác Ngài và là nguyên tắc mà qua đó Ngài làm việc. Không ai có thể thay đổi điều này, và con người không có cách nào tham gia vào đó. Mỗi lần Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài mang theo với Ngài công tác của thời đại đó, và không có ý định sống cạnh con người trong hai mươi, ba mươi, bốn mươi, hoặc thậm chí bảy mươi hoặc tám mươi năm để họ có thể hiểu rõ hơn và có được sự thông sáng về Ngài. Không cần như thế! Làm như vậy sẽ không có cách nào đào sâu thêm kiến thức mà con người có về tâm tính vốn có của Đức Chúa Trời; thay vào đó, nó sẽ chỉ thêm vào các quan niệm của họ và khiến cho các quan niệm và suy nghĩ của họ trở nên hủ lậu. Và vì vậy tất cả các ngươi buộc phải hiểu chính xác công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là gì. Chắc chắn các ngươi không thể không hiểu được những lời Ta đã phán cùng các ngươi rằng: “Ta đã đến không phải để trải nghiệm cuộc sống của một con người bình thường” chứ? Các ngươi đã quên những lời rằng: “Đức Chúa Trời đến thế gian không phải để sống cuộc đời của một con người bình thường” rồi sao? Các ngươi không hiểu mục đích của Đức Chúa Trời trong việc trở nên xác thịt, và các ngươi cũng không biết ý nghĩa của câu: “Làm sao Đức Chúa Trời có thể đến thế gian với ý định trải nghiệm cuộc sống của một loài thọ tạo?” Đức Chúa Trời đến thế gian chỉ để hoàn tất công tác của Ngài, và vì vậy công tác của Ngài trên đất thật ngắn ngủi. Ngài đến thế gian không phải với ý định khiến cho Thần của Đức Chúa Trời trau dồi thân thể xác thịt của Ngài để trở thành một con người vượt trội, người sẽ dẫn dắt hội thánh. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian, đó là Lời trở nên xác thịt; tuy nhiên, con người không biết về công tác của Ngài và áp đặt mọi thứ cho Ngài. Nhưng tất cả các ngươi nên nhận ra rằng Đức Chúa Trời là “Lời trở nên xác thịt”, không phải là một thân thể xác thịt đã được Thần của Đức Chúa Trời trau dồi để đảm nhận vai trò của Đức Chúa Trời cho thời điểm này. Bản thân Đức Chúa Trời không phải là sản phẩm của sự trau dồi, mà là Lời trở nên xác thịt, và ngày nay Ngài chính thức thực hiện công tác của Ngài giữa tất cả các ngươi. Tất cả các ngươi đều biết và thừa nhận rằng sự nhập thể của Đức Chúa Trời là một lẽ thật thực tế, thế mà các ngươi cứ giả vờ như đó một sự hiểu biết vượt quá khả năng thực hiện của các ngươi. Từ công tác của Đức Chúa Trời nhập thể cho đến ý nghĩa và bản chất sự nhập thể của Ngài, các ngươi không thể nắm bắt được những điều này một chút nào và chỉ theo những người khác qua những lời đọc thuộc lòng liến thoắng từ trí nhớ. Ngươi có tin là Đức Chúa Trời nhập thể giống như ngươi tưởng tượng không?

2019-12-30

Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (2)

Vào thời điểm khi Jêsus làm việc tại Giu-đê, Ngài đã làm việc một cách công khai, nhưng hiện nay, Ta làm việc và phán giữa các ngươi trong bí mật. Những kẻ ngoại đạo hoàn toàn không biết về việc đó. Công tác của Ta ở giữa các ngươi được đóng kín đối với người ngoài. Những lời này, những sự trừng phạt và phán xét này, chỉ được tất cả các ngươi mà chẳng có ai khác biết đến. Tất cả công tác này được thực hiện giữa các ngươi và chỉ mở ra cho các ngươi; không ai trong số những kẻ ngoại đạo biết được điều này, vì vẫn chưa đến lúc. Những người ở đây sắp được làm cho trọn vẹn sau khi chịu sự trừng phạt, nhưng những người ngoài không hay biết gì về điều này. Công tác này là quá kín giấu! Đối với họ, việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt được giấu kín, nhưng đối với những người trong dòng chảy này, người ta có thể nói rằng Ngài là công khai. Mặc dù nơi Đức Chúa Trời tất cả đều công khai, tất cả đều được tỏ lộ, và tất cả đều được giải phóng, nhưng điều này chỉ đúng với những người tin vào Ngài; khi nói đến phần còn lại, là những kẻ ngoại đạo, thì lại không được biết gì cả. Công tác đang được thực hiện tại đây lúc này được đóng kín nghiêm ngặt để họ không biết đến. Nếu họ biết đến công tác này, thì tất cả những gì họ sẽ làm là lên án và bắt bớ nó. Họ sẽ không tin vào điều đó. Để làm việc trong quốc gia của con rồng lớn sắc đỏ, nơi lạc hậu nhất này, không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Nếu công tác này được đưa ra công khai, nó sẽ không thể tiếp tục. Giai đoạn công tác này đơn giản là không thể được thực hiện tại nơi này. Nếu công tác này được thực hiện công khai, làm sao họ có thể cho phép nó tiến triển được? Chẳng phải điều này thậm chí sẽ đặt công tác vào rủi ro lớn hơn sao? Nếu công tác này không được che giấu, mà lại được thực hiện như trong thời của Jêsus, khi Ngài đã chữa lành người bệnh và đuổi quỷ một cách ngoạn mục, thì chẳng phải nó đã bị ma quỷ “bắt bỏ tù” từ lâu rồi sao? Liệu họ có thể khoan dung cho sự tồn tại của Đức Chúa Trời hay không? Nếu giờ đây Ta bước vào các hội trường để rao giảng và thuyết giáo con người, thì chẳng phải Ta đã tiêu tan thành từng mảnh từ lâu rồi hay sao? Và nếu điều này xảy ra, thì làm sao công tác của Ta có thể tiếp tục được thực hiện? Lý do không hề có dấu kỳ phép lạ nào được thể hiện công khai là vì mục đích che giấu. Vì vậy, đối với những người ngoại đạo, công tác của Ta không thể được nhìn thấy, được biết đến hoặc được khám phá. Nếu giai đoạn công tác này được thực hiện theo cách tương tự như của Jêsus trong Thời đại Ân điển, thì nó không thể được vững chắc như bây giờ. Vì vậy, làm việc một cách bí mật theo cách này là có lợi cho các ngươi và cho toàn bộ công tác. Khi công tác của Đức Chúa Trời trên đất chấm dứt, nghĩa là khi công tác bí mật này kết thúc, thì giai đoạn công tác này sẽ rộ lên công khai. Tất cả sẽ biết rằng có một nhóm người chiến thắng ở Trung Quốc; tất cả sẽ biết rằng Đức Chúa Trời trở nên xác thịt ở Trung Quốc và công tác của Ngài đã kết thúc. Chỉ khi đó nó mới trở nên rõ ràng cho con người: Tại sao Trung Quốc vẫn chưa biểu hiện sự suy giảm hay sụp đổ? Hóa ra Đức Chúa Trời đang đích thân thực hiện công tác của Ngài tại Trung Quốc và đã hoàn thiện một nhóm người trở thành những người chiến thắng.

2019-12-29

Tiết mục Đối đáp Tin Lành 2019 | Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất


Trong 2.000 năm, thuyết thần học về Ba Ngôi đã được xem là giáo lý căn bản của đức tin Cơ Đốc. Nhưng Đức Chúa Trời thật sự là Ba Ngôi sao? Mối quan hệ giữa Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh chính xác là gì? Chưa một ai từng có thể trả lời những câu hỏi đó một cách rõ ràng. Một ngày nọ, anh Zhang đăng một câu hỏi lên nhóm thảo luận trên mạng của hội thánh của mình: Ba Ngôi có thật sự tồn tại không? Câu hỏi này khơi ra cuộc tranh luận căng thẳng giữa các tín hữu, sau đó Zheng Xun và Li Rui thảo luận và thông công về câu hỏi này. Kết luận của họ là gì? Mời xem tiết mục đối đáp Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất.

2019-12-28

Thánh Ca | “Lễ ca của Vương quốc: Vương quốc giáng trần” | Màn đặc sắc 5



Bản hùng ca vương quốc đầy xúc động đã cất lên, công bố Đức Chúa Trời đến giữa con người cho toàn vũ trụ! Vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến! Muôn dân hân hoan, muôn vật vui mừng! Khắp các tầng trời đều ngập tràn hoan hỉ. Những cảnh tượng hân hoan động lòng người này là gì?

2019-12-27

Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)

cầu nguyện,tin Chúa,

Trong Thời đại Ân điển, Giăng đã dọn đường cho Jêsus. Ông đã không thể làm công tác của chính Đức Chúa Trời mà chỉ đơn thuần là hoàn thành nghĩa vụ của con người. Mặc dù Giăng là đấng tiên phong của Chúa, nhưng ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời; ông chỉ là một con người được Đức Thánh Linh sử dụng mà thôi. Sau phép báp-têm của Jêsus, Đức Thánh Linh đã ngự xuống trên Ngài như hình chim bồ câu. Sau đó, Ngài đã bắt đầu công tác của mình, nghĩa là Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của Đấng Christ. Đó là lý do Ngài mang danh tính của Đức Chúa Trời, vì Ngài đã đến từ Đức Chúa Trời. Bất kể đức tin của Ngài ra sao trước sự kiện này - đôi khi đức tin ấy có thể đã yếu đuối, hoặc đôi khi nó mạnh mẽ - tất cả đều thuộc về cuộc đời con người bình thường mà Ngài đã sống trước khi thực hiện chức vụ của mình. Sau khi Ngài đã chịu báp-têm (nghĩa là đã được xức dầu), quyền năng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngay lập tức ở cùng Ngài, và như thế Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của mình. Ngài có thể làm những dấu kỳ sự lạ, thực hiện những phép mầu, Ngài có quyền năng và thẩm quyền, vì Ngài đang trực tiếp hành động nhân danh chính Đức Chúa Trời; Ngài đang làm công tác thay mặt cho Thần và đang bày tỏ tiếng phán của Thần. Vì vậy, Ngài chính là Đức Chúa Trời; điều này là không thể bàn cãi. Giăng đã được Đức Thánh Linh sử dụng. Ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời, ông cũng không có khả năng đại diện cho Đức Chúa Trời. Nếu ông có muốn làm như vậy, thì Đức Thánh Linh hẳn cũng đã không cho phép điều đó, vì ông không thể làm công tác mà chính Đức Chúa Trời dự định hoàn thành. Có lẽ phần nhiều trong ông là ý muốn của con người, hay thứ gì đó lệch lạc; chẳng có tình huống nào mà ông có thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời. Những lỗi lầm và sai lầm của ông chỉ đại diện cho bản thân ông, nhưng công tác của ông là đại diện của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, ngươi không thể nói rằng mọi thứ của ông đều đại diện cho Đức Chúa Trời. Có thể nào sự lệch lạc và sai lầm của ông cũng đại diện cho Đức Chúa Trời sao? Sai sót trong việc đại diện cho con người là điều bình thường, nhưng nếu một người lệch lạc trong việc đại diện cho Đức Chúa Trời, thì chẳng phải đó sẽ là một sự sỉ nhục đối với Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải đó sẽ là sự phạm thượng đối với Đức Thánh Linh sao? Đức Thánh Linh không dễ dàng cho phép con người thay thế cho Đức Chúa Trời, ngay cả khi họ được những người khác tôn cao. Nếu họ không phải là Đức Chúa Trời, thì cuối cùng họ sẽ không thể đứng vững. Đức Thánh Linh không cho phép con người đại diện cho Đức Chúa Trời như con người muốn! Chẳng hạn, chính Đức Thánh Linh đã làm chứng cho Giăng và cũng chính Đức Thánh Linh đã mặc khải Giăng sẽ là người dọn đường cho Jêsus, nhưng công tác Đức Thánh Linh thực hiện trên ông đã được cân nhắc kỹ càng. Tất cả những gì Giăng được yêu cầu là trở thành người dọn đường cho Jêsus, để chuẩn bị lối cho Ngài. Điều đó có nghĩa là, Đức Thánh Linh đã chỉ ủng hộ công việc dọn đường của ông và chỉ cho phép ông làm công việc đó mà thôi - ông không được phép làm điều gì khác. Giăng đại diện cho Ê-li, và ông đại diện cho một nhà tiên tri đã mở đường. Đức Thánh Linh đã ủng hộ ông làm điều này; miễn là công việc của ông là mở đường, thì Đức Thánh Linh ủng hộ ông. Tuy nhiên, nếu ông đã tuyên bố mình chính là Đức Chúa Trời và nói rằng ông đã đến để hoàn thành công tác cứu chuộc, thì Đức Thánh Linh hẳn đã phải sửa dạy ông. Cho dù công tác của Giăng vĩ đại đến đâu, và mặc dù nó đã được Đức Thánh Linh ủng hộ, nhưng công tác của ông không phải không có những ranh giới. Dù đúng là Đức Thánh Linh thực sự đã ủng hộ công tác của ông, nhưng quyền năng ban cho ông vào thời điểm đó chỉ giới hạn trong việc dọn đường mà thôi. Ông không thể làm bất kỳ công tác nào khác, vì ông chỉ là Giăng, người dọn đường, chứ không phải là Jêsus. Do đó, lời chứng của Đức Thánh Linh là mấu chốt, nhưng công tác mà Đức Thánh Linh cho phép con người thực hiện thậm chí còn quan trọng hơn. Chẳng phải lúc đó Giăng đã nhận được lời chứng vang dội sao? Chẳng phải công tác của ông cũng đã rất vĩ đại sao? Nhưng công tác ông đã làm không thể vượt qua công tác của Jêsus, vì ông không hơn gì một con người được Đức Thánh Linh sử dụng và không thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời, và vì vậy công việc ông làm bị hạn chế. Sau khi ông đã hoàn thành công tác dọn đường, Đức Thánh Linh đã không còn ủng hộ lời chứng của ông, không có công tác mới nào theo sau ông, và ông đã rời đi khi công tác của chính Đức Chúa Trời bắt đầu.

2019-12-26

Thực hành (2)

Trong thời gian qua, con người đã rèn luyện bản thân để được ở bên Đức Chúa Trời và sống trong linh hồn trong từng khoảnh khắc. So với thực tiễn ngày nay, đó là một hình thức rèn luyện thuộc linh đơn giản, và tạo thành giai đoạn thực hành đầu tiên trong đức tin của mọi người. Nếu mọi người luôn dựa vào loại thực hành này trong cuộc sống, họ sẽ không có khả năng đi vào trải nghiệm cuộc sống thực sự; họ sẽ chỉ có thể rèn luyện linh hồn của mình, đến gần Đức Chúa Trời một cách bình thường trong lòng họ và sẽ luôn tìm thấy niềm vui to lớn khi có Đức Chúa Trời ở cùng họ. Họ sẽ giới hạn bản thân trong phạm vi nhỏ của cảm giác về sự gần gũi với Đức Chúa Trời, và sẽ không thể tiếp cận bất cứ điều gì sâu sắc hơn. Những người sống trong các ranh giới này không có khả năng đạt được bất kỳ bước tiến vượt bậc nào. Bất cứ lúc nào, họ cũng có khả năng thét lên: “Ah! Đức Chúa Jêsus. Amen!” Họ cứ như vậy hầu như mỗi ngày - đó là cách thực hành của thời gian trước đây, cách thực hành sống trong linh hồn trong mọi khoảnh khắc. Đó chẳng phải là điều tầm thường sao? Ngày nay, khi đến lúc phải suy ngẫm về lời của Đức Chúa Trời, chỉ cần tập trung suy ngẫm về lời của Đức Chúa Trời; khi đến lúc phải đưa lẽ thật vào thực hành, chỉ cần tập trung đưa lẽ thật vào thực hành; khi đến lúc phải thực hiện bổn phận của ngươi, chỉ cần thực hiện bổn phận của ngươi. Loại thực hành này trong thực tế đúng là một sự giải phóng; loại thực hành này giải phóng ngươi. Việc này không giống như cách những người theo đạo cũ cầu nguyện và nói về ân điển. Tất nhiên, trước kia, đây là sự thực hành của những người có đức tin, nhưng bây giờ việc thực hành theo cách này là quá lạc hậu. Công việc của Đức Chúa Trời hiện đang ở một cấp độ cao hơn; những gì được nói đến ngày hôm nay, “đưa Đức Chúa Trời vào đời thực”, là khía cạnh quan trọng nhất của việc thực hành. Trong đời thực, con người phải sở hữu nhân tính đúng đắn, và những gì con người nên sở hữu trong nhân tính đúng đắn của mình là tất cả những lời Chúa nói hôm nay. Đưa những lời này của Đức Chúa Trời vào đời thực là ý nghĩa thực tế của việc “đưa Đức Chúa Trời vào đời thực”. Ngày nay, mọi người chủ yếu nên trang bị cho mình những điều sau: Về một khía cạnh nào đó, họ phải được giáo dục, cải thiện tầm cỡ và cải thiện kỹ năng đọc hiểu; trong một khía cạnh khác, họ phải sống cuộc sống của một người đúng đắn. Ngươi vừa đến trước mặt Đức Chúa Trời từ thế gian; trước tiên ngươi phải rèn luyện lòng mình yên lặng trước Đức Chúa Trời. Đây là sự khởi đầu thực sự của thực hành, và cũng là bước đầu tiên để đạt được sự thay đổi trong tâm tính cuộc sống của ngươi. Một số người tương đối dễ thích nghi trong việc thực hành của họ; họ suy ngẫm về lẽ thật trong khi làm việc hoặc làm việc nhà, tìm ra lẽ thật và các nguyên tắc thực hành mà họ nên hiểu trong thực tế. Ở một khía cạnh, ngươi phải có một cuộc sống đúng đắn của con người, và khía cạnh kia là phải có lối vào lẽ thật. Tất cả những điều này là sự thực hành tốt nhất cho đời thực.

2019-12-25

Thực hành (1)

Trong quá khứ, đã có rất nhiều sự lệch lạc và thậm chí là vô lý trong những cách mà con người trải nghiệm. Họ đơn giản là đã không hiểu được những tiêu chuẩn trong các yêu cầu của Đức Chúa Trời, vì thế có nhiều lĩnh vực trong đó những sự trải nghiệm của con người đã bị sai lệch. Những gì Đức Chúa Trời yêu cầu nơi con người là để cho họ có thể sống bày tỏ một nhân tính bình thường. Ví dụ, con người tuân theo các khuôn mẫu hiện đại liên quan đến việc ăn mặc, mặc vest và cà vạt, tìm hiểu một chút về nghệ thuật, và trong thời gian rãnh rỗi họ có thể thưởng thức nghệ thuật, văn hóa và giải trí. Họ có thể chụp vài tấm hình làm kỷ niệm, có thể đọc và có được một số kiến thức hữu ích, và có một môi trường sống tương đối tốt. Đây là tất cả những điều phù hợp đời sống của một nhân tính bình thường, vậy mà con người xem chúng như là những điều mà Đức Chúa Trời gớm ghiếc và họ tự kìm nén không làm những điều đó. Sự thực hành của họ chỉ đơn thuần bao gồm việc tuân theo một vài quy tắc, dẫn đến một đời sống phẳng lặng như nước ao tù và hoàn toàn vô nghĩa. Trên thực tế, Đức Chúa Trời chưa bao giờ yêu cầu con người làm mọi việc theo cách này. Tất cả mọi người đều mong muốn kiềm chế tâm tính của riêng mình, cầu nguyện không ngừng trong ý nghĩ của mình để đến gần Đức Chúa Trời hơn, tâm trí của họ liên tục ngẫm nghĩ về những điều Chúa dự định, đôi mắt họ liên tục quan sát điều này điều nọ, hết sức lo sợ rằng mối quan hệ của họ với Chúa sẽ có thể bị cắt đứt. Đây là tất cả những kết luận mà con người đã tự rút ra; đây là những quy tắc mà con người đã đặt ra cho chính mình. Nếu ngươi không biết được bản chất và thực chất của chính mình và không hiểu được sự thực hành của bản thân mình có thể đạt đến mức nào, thì ngươi sẽ không có cách nào để xác định chính xác những tiêu chuẩn nào Đức Chúa Trời yêu cầu nơi con người, và ngươi cũng sẽ không có được một con đường thực hành đúng. Vì ngươi không thể hiểu điều Đức Chúa Trời yêu cầu nơi con người chính xác là gì, nên tâm trí của ngươi luôn luôn đảo lộn, ngươi vắt óc để phân tích các ý định của Chúa và dò dẫm tìm kiếm cách nào đó để được Đức Thánh Linh cảm động và khai sáng. Kết quả là, ngươi phát triển một vài cách thực hành mà ngươi tin là phù hợp. Ngươi hoàn toàn không biết chính xác điều Đức Chúa Trời yêu cầu nơi con người là gì; chỉ vô tư thực hiện những bộ thực hành của riêng mình, quan tâm rất ít đến kết quả và càng không quan tâm đến việc liệu có những sự sai lệch hoặc sai sót nào trong sự thực hành của ngươi hay không. Theo cách này, sự thực hành của ngươi tự nhiên thiếu đi tính chính xác và không có nguyên tắc. Điều đặc biệt thiếu là lý trí và lương tâm đúng đắn của con người, cũng như sự khen ngợi của Đức Chúa Trời và sự làm chứng của Đức Thánh Linh. Sẽ hoàn toàn quá dễ dàng khi ngươi chỉ đi con đường của riêng mình. Kiểu thực hành này là chỉ tuân theo các quy tắc hoặc cố ý gánh vác nhiều hơn để hạn chế và kiểm soát chính mình. Vậy mà ngươi lại nghĩ rằng sự thực hành của ngươi hoàn toàn đúng và chính xác, không biết rằng phần lớn sự thực hành của ngươi bao gồm các quy trình hoặc sự quan sát không cần thiết. Có nhiều người thực hành như thế trong nhiều năm về cơ bản không có sự thay đổi trong tâm tính của họ, không có sự hiểu biết mới, và không có sự bước vào mới. Họ vô tình phạm lại những sai lầm cũ và để cho bản chất hung ác của mình tự do hành động, thậm chí đến mức nhiều lần họ thực hiện những hành động vô lý, vô nhân đạo và hành xử theo cách khiến mọi người vò đầu bứt tóc và hoàn toàn cảm thấy bối rối. Những người như thế có thể được cho là đã trải nghiệm sự biến đổi tâm tính không?

2019-12-24

Xét về Kinh Thánh (4)

tin Chúa,phúc âm,

Nhiều người tin rằng việc hiểu và có thể giải nghĩa Kinh Thánh cũng giống như việc tìm ra con đường thật - nhưng trên thực tế, mọi thứ có thực sự đơn giản như vậy không? Không ai biết được thực tế của Kinh Thánh: rằng nó không là gì khác hơn một bản ghi chép mang tính lịch sử về công tác của Đức Chúa Trời, và là một giao ước cho hai giai đoạn trước đây trong công tác của Đức Chúa Trời, và rằng nó không cung cấp cho ngươi sự hiểu biết về những mục tiêu trong công tác của Đức Chúa Trời. Tất cả những ai đã đọc Kinh Thánh đều biết rằng nó ghi lại hai giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp và Thời đại Ân điển. Cựu Ước ghi lại lịch sử của Y-sơ-ra-ên và công tác của Đức Giê-hô-va từ thời điểm sáng thế cho đến khi kết thúc Thời đại Luật pháp. Tân Ước ghi lại công tác của Jêsus trên đất, trong Bốn Sách Phúc Âm, cũng như công tác của Phao-lô; chẳng phải những sách này cũng đều là những bản ghi chép mang tính lịch sử sao? Việc đề cập những điều của quá khứ hôm nay khiến chúng trở thành lịch sử, và dù có thể chúng là thật hoặc thực tế ra sao đi nữa, chúng vẫn là lịch sử - và lịch sử không thể giải quyết hiện tại, vì Đức Chúa Trời không nhìn lại lịch sử! Và vì vậy, nếu ngươi chỉ hiểu Kinh Thánh mà không hiểu gì về công tác Đức Chúa Trời dự định làm ngày nay, và nếu ngươi tin vào Đức Chúa Trời nhưng lại không tìm kiếm công tác của Đức Thánh Linh, thì ngươi không hiểu ý nghĩa của việc tìm kiếm Chúa. Nếu ngươi đọc Kinh Thánh để nghiên cứu lịch sử của Y-sơ-ra-ên, để nghiên cứu lịch sử tạo dựng tất cả trời đất của Đức Chúa Trời, thì ngươi không tin vào Đức Chúa Trời. Nhưng ngày nay, vì ngươi tin vào Đức Chúa Trời và theo đuổi sự sống, vì ngươi theo đuổi kiến thức về Đức Chúa Trời mà không theo đuổi những câu chữ và giáo lý đã hết hiệu lực, hoặc sự hiểu biết về lịch sử, nên ngươi phải tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời ngày nay, và phải tìm kiếm phương hướng công tác của Đức Thánh Linh. Nếu ngươi là một nhà khảo cổ học thì ngươi đã có thể đọc Kinh Thánh - nhưng ngươi không phải, ngươi là một trong những người tin vào Đức Chúa Trời, và tốt nhất ngươi nên tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời ngày nay. Bằng cách đọc Kinh Thánh, cùng lắm ngươi sẽ hiểu một chút về lịch sử của Y-sơ-ra-ên, ngươi sẽ biết về cuộc đời của Áp-ra-ham, Đa-vít và Môi-se, ngươi sẽ hiểu về cách họ tôn kính Đức Giê-hô-va, cách Đức Giê-hô-va thiêu đốt những kẻ chống lại Ngài, và cách Ngài phán với dân sự của thời đại đó. Ngươi sẽ chỉ hiểu về công tác của Đức Chúa Trời trong quá khứ. Các ghi chép của Kinh Thánh liên quan đến việc những người Y-sơ-ra-ên đầu tiên tôn kính Đức Chúa Trời và sống dưới sự hướng dẫn của Đức Giê-hô-va như thế nào. Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là dân sự được Chúa chọn nên trong Cựu Ước, ngươi có thể thấy lòng trung thành của tất cả dân Y-sơ-ra-ên đối với Đức Giê-hô-va, tất cả những người vâng lời Đức Giê-hô-va được Ngài chăm sóc và ban phước ra sao, ngươi có thể biết được rằng khi Đức Chúa Trời làm việc ở Y-sơ-ra-ên thì Ngài đầy lòng thương xót và tình yêu, cũng như sở hữu những ngọn lửa thiêu đốt, và rằng tất cả dân Y-sơ-ra-ên, từ thấp hèn đến vĩ đại, đều đã tôn kính Đức Giê-hô-va, và vì thế cả đất nước đã được Đức Chúa Trời ban phước. Đó là lịch sử của Y-sơ-ra-ên được ghi lại trong Cựu Ước.

2019-12-23

Xét về Kinh Thánh (1)

Kinh Thánh nên được tiếp cận như thế nào trong niềm tin vào Đức Chúa Trời? Đây là một câu hỏi về nguyên tắc. Tại sao chúng ta lại đang thảo luận câu hỏi này? Bởi vì trong tương lai, ngươi sẽ truyền bá Phúc Âm và mở rộng công tác của Thời đại Vương quốc, và nếu chỉ đơn thuần có thể nói về công tác của Đức Chúa Trời ngày nay thì không đủ. Để mở rộng công tác của Ngài, điều quan trọng hơn là ngươi có thể giải quyết những quan niệm tôn giáo cũ và phương tiện tín ngưỡng cũ của mọi người, và khiến họ hoàn toàn bị thuyết phục - và việc đạt đến mức độ đó có liên quan đến Kinh Thánh. Trong nhiều năm, phương tiện tín ngưỡng truyền thống của mọi người (của Cơ Đốc giáo, một trong ba tôn giáo chính của thế giới) đã là đọc Kinh Thánh; rời khỏi Kinh Thánh không phải là niềm tin vào Chúa, rời khỏi Kinh Thánh là dị giáo và tà giáo, và ngay cả khi mọi người đọc các sách khác, thì nền tảng của các sách này phải là sự giải nghĩa Kinh Thánh. Điều đó có nghĩa là, nếu ngươi nói rằng mình tin vào Chúa, thì ngươi phải đọc Kinh Thánh, ngươi phải ăn uống Kinh Thánh, và ngoài Kinh Thánh thì ngươi không được tôn sùng bất kỳ quyển sách nào không liên quan đến Kinh Thánh. Nếu ngươi làm như vậy, thì ngươi đang phản bội Đức Chúa Trời. Từ thời có Kinh Thánh, niềm tin vào Chúa của mọi người đã là niềm tin vào Kinh Thánh. Thay vì nói mọi người tin vào Chúa, tốt hơn là nói họ tin vào Kinh Thánh; thay vì nói rằng họ đã bắt đầu đọc Kinh Thánh, tốt hơn là nói rằng họ đã bắt đầu tin vào Kinh Thánh; và thay vì nói rằng họ đã trở lại trước mặt Chúa, sẽ tốt hơn khi nói rằng họ đã trở lại trước Kinh Thánh. Theo cách này, mọi người thờ phượng Kinh Thánh như thể nó là Đức Chúa Trời, như thể nó là huyết mạch của họ và mất nó sẽ giống như mất đi mạng sống của họ. Mọi người xem Kinh Thánh cao ngang bằng Đức Chúa Trời, và thậm chí có những người còn xem nó cao hơn cả Đức Chúa Trời. Nếu mọi người không có công tác của Đức Thánh Linh, nếu họ không thể cảm nhận được Đức Chúa Trời, họ có thể tiếp tục sống - nhưng ngay khi họ mất đi Kinh Thánh, hoặc mất đi những đoạn và những câu nói nổi tiếng từ Kinh Thánh, thì như thể họ đã mất đi mạng sống của mình vậy. Và vì thế, ngay khi mọi người tin vào Chúa, họ đã bắt đầu đọc Kinh Thánh và ghi nhớ Kinh Thánh, và họ càng có thể nhớ nhiều Kinh Thánh bao nhiêu, điều này càng chứng tỏ rằng họ yêu mến Chúa và có đức tin lớn bấy nhiêu. Những người đã đọc Kinh Thánh và có thể nói về nó cho người khác đều là những anh chị em tốt. Trong suốt những năm này, đức tin và lòng trung thành với Chúa của mọi người đã được đo lường theo mức độ hiểu biết của họ về Kinh Thánh. Hầu hết mọi người chỉ đơn giản là không hiểu tại sao họ nên tin vào Đức Chúa Trời, cũng như làm thế nào để tin vào Chúa, và không làm gì ngoài việc mù quáng tìm kiếm những manh mối để giải mã các đoạn Kinh Thánh. Mọi người chưa bao giờ theo đuổi chiều hướng công tác của Đức Thánh Linh; từ đầu, họ đã không làm gì ngoài việc nghiên cứu và dò xét Kinh Thánh một cách tuyệt vọng, và chưa ai từng tìm thấy công tác mới hơn của Đức Thánh Linh bên ngoài Kinh Thánh, chưa ai từng rời khỏi Kinh Thánh, và họ chưa bao giờ dám rời khỏi Kinh Thánh. Mọi người đã nghiên cứu Kinh Thánh trong suốt những năm này, họ đã đưa ra rất nhiều lời giải nghĩa, và đưa vào rất nhiều công tác; họ cũng có nhiều ý kiến khác nhau về Kinh Thánh, là điều mà họ tranh luận không ngừng, đến nỗi hơn hai nghìn giáo phái khác nhau đã được hình thành ngày nay. Tất cả họ đều muốn tìm một số lời giải nghĩa đặc biệt, hoặc những sự mầu nhiệm sâu sắc hơn trong Kinh Thánh, họ muốn khám phá nó, và muốn tìm thấy trong đó nền tảng cho công tác của Đức Giê-hô-va tại Y-sơ-ra-ên, hoặc nền tảng cho công tác của Jêsus tại Giu-đê, hoặc nhiều sự mầu nhiệm mà không ai khác biết được. Cách tiếp cận với Kinh Thánh của mọi người là do sự ám ảnh và đức tin, và không ai có thể hoàn toàn biết rõ về câu chuyện bên trong hoặc bản chất của Kinh Thánh. Vì vậy, ngày nay mọi người vẫn có một cảm giác kỳ diệu không thể diễn tả khi nói đến Kinh Thánh; thậm chí còn hơn thế, họ bị ám ảnh với nó, và có niềm tin vào nó. Ngày nay, mọi người đều muốn tìm ra những lời tiên tri về công tác của những ngày sau rốt trong Kinh Thánh, họ muốn khám phá công tác Đức Chúa Trời làm trong những ngày sau rốt, và có những dấu lạ nào cho những ngày sau rốt. Theo cách này, việc tôn thờ Kinh Thánh của họ trở nên sốt sắng hơn, và càng đến gần những ngày sau rốt, họ càng tin tưởng vào những lời tiên tri của Kinh Thánh, đặc biệt là những lời tiên tri về những ngày sau rốt. Với niềm tin mù quáng vào Kinh Thánh như vậy, với sự tin cậy vào Kinh Thánh như vậy, họ không khao khát tìm kiếm công tác của Đức Thánh Linh. Theo các quan niệm của mọi người, họ nghĩ rằng chỉ Kinh Thánh mới có thể mang lại công tác của Đức Thánh Linh; chỉ trong Kinh Thánh họ mới có thể tìm thấy những vết chân của Đức Chúa Trời; chỉ trong Kinh Thánh mới ẩn giấu những lẽ mầu nhiệm trong công tác của Đức Chúa Trời; chỉ Kinh Thánh - chứ không phải những quyển sách hay những người nào khác - mới có thể làm sáng tỏ mọi điều về Đức Chúa Trời và toàn bộ công tác của Ngài; Kinh Thánh có thể mang công tác của thiên đàng xuống trần gian; và Kinh Thánh có thể vừa bắt đầu vừa kết thúc các thời đại. Với những quan niệm này, mọi người không có khuynh hướng tìm kiếm công tác của Đức Thánh Linh. Vì vậy, bất kể Kinh Thánh đã hữu ích với mọi người như thế nào trong quá khứ, nó đã trở thành một trở ngại cho công tác mới nhất của Đức Chúa Trời. Không có Kinh Thánh, mọi người có thể tìm kiếm vết chân của Đức Chúa Trời ở nơi khác, nhưng ngày nay, vết chân của Ngài đã được Kinh Thánh chứa đựng, và việc mở rộng công tác mới nhất của Ngài đã trở nên khó khăn gấp đôi, và là một cuộc đấu tranh vất vả. Tất cả điều này đều là do những đoạn và câu nói nổi tiếng từ Kinh Thánh, cũng như những lời tiên tri khác nhau của Kinh Thánh. Kinh Thánh đã trở thành một thần tượng trong tâm trí của mọi người, nó đã trở thành một câu đố trong trí não của họ, và họ đơn giản là không có khả năng tin rằng Đức Chúa Trời có thể làm việc bên ngoài Kinh Thánh, họ không có khả năng tin rằng mọi người có thể tìm thấy Chúa ở ngoài Kinh Thánh, họ càng không thể tin rằng Chúa có thể rời khỏi Kinh Thánh trong công tác cuối cùng và bắt đầu bằng cách khác. Điều này là không tưởng đối với mọi người; họ không thể tin vào điều đó, và họ cũng không thể tưởng tượng được điều đó. Kinh Thánh đã trở thành một trở ngại lớn cho việc mọi người chấp nhận công tác mới của Đức Chúa Trời, và một khó khăn cho việc Chúa mở rộng công tác mới này. Do đó, nếu các ngươi không hiểu câu chuyện bên trong Kinh Thánh, các ngươi sẽ không thể rao truyền Phúc Âm thành công, và các ngươi cũng sẽ không thể làm chứng cho công tác mới. Mặc dù ngày nay các ngươi không đọc Kinh Thánh, nhưng các ngươi vẫn cực kỳ hòa nhã đối với nó, có nghĩa là, Kinh Thánh có thể không ở trong tay các ngươi, nhưng nhiều quan niệm của các ngươi đến từ nó. Các ngươi không hiểu những nguồn gốc của Kinh Thánh hoặc câu chuyện bên trong về hai giai đoạn công tác trước đây của Đức Chúa Trời. Mặc dù các ngươi không ăn uống Kinh Thánh, nhưng các ngươi phải hiểu Kinh Thánh, các ngươi phải đạt được sự hiểu biết chính xác về Kinh Thánh, và chỉ bằng cách này thì các ngươi mới có thể biết kế hoạch quản lý 6.000 năm của Đức Chúa Trời nói về điều gì. Các ngươi sẽ sử dụng những điều này để thu phục mọi người, để khiến họ thừa nhận rằng dòng chảy này là con đường thật, để khiến họ thừa nhận rằng con đường các ngươi bước đi hôm nay là con đường của lẽ thật, rằng nó được Đức Thánh Linh hướng dẫn, và chưađược mở ra bởi bất kỳ con người nào.

2019-12-22

Xét về Kinh Thánh (2)

Kinh Thánh còn được gọi là Cựu Ước và Tân Ước. Các ngươi có biết “ước” ám chỉ điều gì không? “Ước” trong Cựu Ước xuất phát từ giao ước của Đức Giê-hô-va với dân Y-sơ-ra-ên khi Ngài đã giết dân Ê-díp-tô và cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi Pha-ra-ôn. Tất nhiên, bằng chứng của giao ước này là huyết của chiên con được bôi lên mày cửa, qua đó Đức Chúa Trời đã thiết lập một giao ước với con người, trong đó nói rằng tất cả những người có huyết chiên con trên đỉnh và hai bên cột cửa là người Y-sơ-ra-ên, họ là dân sự được chọn của Đức Chúa Trời, và tất cả họ sẽ được Đức Giê-hô-va tha miễn (vì lúc đó Đức Giê-hô-va sắp giết tất cả các con trai đầu lòng của Ê-díp-tô cùng chiên và gia súc đầu lòng). Giao ước này có hai cấp độ ý nghĩa. Không ai trong số dân sự hoặc gia súc của Ê-díp-tô sẽ được Đức Giê-hô-va giải thoát; Ngài sẽ giết tất cả con trai đầu lòng cùng chiên và gia súc đầu lòng của họ. Do đó, trong nhiều sách tiên tri, đã được tiên báo rằng dân Ê-díp-tô sẽ bị trừng phạt nặng nề do kết quả giao ước của Đức Giê-hô-va. Đây là cấp độ ý nghĩa đầu tiên của giao ước. Đức Giê-hô-va đã giết các con trai đầu lòng của Ê-díp-tô và tất cả con đầu lòng của gia súc nó, và Ngài tha miễn cho tất cả dân Y-sơ-ra-ên, điều đó có nghĩa là tất cả những người thuộc vùng đất Y-sơ-ra-ên đều được Đức Giê-hô-va săn sóc, và tất cả sẽ được tha miễn; Ngài muốn làm công tác lâu dài qua họ, và đã thiết lập giao ước với họ bằng cách sử dụng huyết chiên con. Từ đó trở đi, Đức Giê-hô-va sẽ không giết dân Y-sơ-ra-ên, và phán rằng họ sẽ mãi mãi là dân sự được chọn của Ngài. Giữa mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên, Ngài sẽ bắt tay vào công tác của Ngài cho toàn bộ Thời đại Luật pháp, Ngài sẽ tiết lộ tất cả luật pháp của Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên, và lựa chọn trong số họ các tiên tri và các quan xét, và họ sẽ là trung tâm của công tác Ngài. Đức Giê-hô-va đã lập một giao ước với họ: Trừ khi thời đại thay đổi, Ngài sẽ chỉ làm việc giữa những người được chọn. Giao ước của Đức Giê-hô-va là bất biến, vì nó đã được tạo ra bằng huyết và đã được thiết lập với dân sự được chọn của Ngài. Quan trọng hơn, Ngài đã chọn một phạm vi và mục tiêu phù hợp để thông qua đó bắt tay vào công tác của Ngài cho cả thời đại, và vì thế mọi người đã xem giao ước là đặc biệt quan trọng. Đây là cấp độ ý nghĩa thứ hai của giao ước. Ngoại trừ Sáng thế ký, đã có trước khi thiết lập giao ước, thì tất cả các sách khác trong Cựu Ước đều ghi lại công tác của Đức Chúa Trời ở giữa dân Y-sơ-ra-ên sau khi thiết lập giao ước. Tất nhiên, thỉnh thoảng có những bản ký thuật của dân ngoại, nhưng nhìn chung, các tài liệu trong Cựu Ước đều ghi lại công tác của Đức Chúa Trời tại Y-sơ-ra-ên. Vì giao ước của Đức Giê-hô-va với dân Y-sơ-ra-ên nên các sách được viết trong Thời đại Luật pháp được gọi là “Cựu Ước”. Chúng được đặt tên theo giao ước của Đức Giê-hô-va với dân Y-sơ-ra-ên.

2019-12-20

Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (2)

cầu nguyện,tin Chúa,

Phúc Âm về sự ăn năn đã được rao giảng trong Thời đại Ân điển, và quy định rằng con người phải tin thì họ mới được cứu. Ngày nay, thay vì sự cứu rỗi, người ta chỉ nói về sự chinh phục và sự hoàn thiện. Người ta không bao giờ nói rằng nếu một người tin thì cả gia đình của họ sẽ được ban phước, hoặc một khi được cứu rỗi thì luôn luôn được cứu rỗi. Ngày nay, không ai nói những lời này, và những điều như thế là lỗi thời. Vào thời điểm đó công tác của Jêsus là công tác cứu chuộc cả nhân loại. Tội lỗi của tất cả những ai tin vào Ngài đã được tha thứ; miễn là ngươi tin vào Ngài, Ngài sẽ cứu chuộc ngươi; nếu ngươi tin vào Ngài, ngươi không còn là tội nhân nữa, ngươi đã được giải thoát khỏi tội lỗi của mình. Điều này là ý nghĩa của việc được cứu, và được xưng công chính bởi đức tin. Tuy nhiên, trong những người tin, vẫn còn có sự dấy loạn và chống đối Đức Chúa Trời, và điều đó vẫn phải bị loại bỏ từ từ. Sự cứu rỗi không có nghĩa là con người đã được Jêsus hoàn toàn thu phục, mà có nghĩa là con người không còn tội lỗi nữa, họ đã được tha tội: Miễn là ngươi tin, thì ngươi sẽ không bao giờ còn tội lỗi nữa. Vào thời điểm đó, Jêsus đã làm nhiều việc mà các môn đệ của Ngài không thể hiểu nổi, và đã phán nhiều điều mà mọi người không hiểu được. Điều này là vì, tại thời điểm đó, Ngài đã không đưa ra lời giải thích. Do đó, vài năm sau khi Ngài rời đi, Ma-thi-ơ đã lập phả hệ cho Jêsus, và những người khác cũng đã làm nhiều việc theo ý muốn của con người. Jêsus đã không đến để hoàn thiện và thu phục con người, mà để thực hiện một giai đoạn của công tác: đưa ra Phúc Âm của vương quốc thiên đàng và hoàn thành công tác chịu đóng đinh. Và vì thế, một khi Jêsus đã bị đóng đinh, công tác của Ngài hoàn toàn chấm dứt. Nhưng trong giai đoạn hiện nay - công tác chinh phục - nhiều lời hơn phải được phán ra, nhiều công tác hơn phải được thực hiện, và phải có nhiều quá trình. Những sự mầu nhiệm về công tác của Jêsus và Đức Giê-hô-va cũng phải được tiết lộ, hầu cho tất cả mọi người có thể có sự hiểu biết và sự rõ ràng trong niềm tin của họ, vì đây là công tác của những ngày sau rốt, và những ngày sau rốt là hồi cuối trong công tác của Đức Chúa Trời, thời điểm kết thúc công tác này. Giai đoạn công tác này sẽ làm cho ngươi sáng tỏ về luật pháp của Đức Giê-hô-va và sự cứu chuộc của Jêsus, và chủ yếu để ngươi có thể hiểu được toàn bộ công tác của kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Đức Chúa Trời, và đánh giá cao tất cả ý nghĩa và thực chất của kế hoạch quản lý sáu nghìn năm này, hiểu được mục đích của tất cả công tác đã được Jêsus thực hiện và những lời Ngài đã phán, và thậm chí cả lòng tin mù quáng cùng sự sùng bái Kinh Thánh của ngươi. Tất cả điều này sẽ cho phép ngươi hiểu một cách thấu đáo. Ngươi sẽ hiểu được cả công tác được thực hiện bởi Jêsus lẫn công tác của Đức Chúa Trời ngày nay; ngươi sẽ hiểu và thấy được mọi lẽ thật, sự sống và đường đi. Trong giai đoạn công tác do Jêsus thực hiện, tại sao Jêsus lại rời đi mà không thực hiện công tác kết thúc? Bởi vì giai đoạn công tác của Jêsus không phải là công tác kết thúc. Khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, những lời của Ngài cũng chấm dứt; sau khi Ngài bị đóng đinh, công tác của Ngài đã hoàn thành trọn vẹn. Giai đoạn hiện nay thì khác: Chỉ sau khi những lời được phán ra đến cuối cùng và toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời kết thúc thì công tác của Ngài mới hoàn thành. Trong giai đoạn công tác của Jêsus, đã có nhiều lời vẫn chưa được phán ra, hoặc chưa được phán rõ ràng đầy đủ. Tuy nhiên, Jêsus đã không quan tâm đến những gì Ngài phán hoặc không phán, vì chức vụ của Ngài không phải là một chức vụ của lời phán, và vì vậy sau khi Ngài đã bị đóng đinh trên thập tự giá thì Ngài đã rời đi. Giai đoạn công tác đó chủ yếu là để chịu đóng đinh, và khác với giai đoạn ngày nay. Giai đoạn công tác này chủ yếu là để hoàn thành, làm sáng tỏ, và đưa đến kết thúc toàn bộ công tác. Nếu những lời không được phán ra đến cùng, sẽ không có cách nào để kết thúc công tác này, vì trong giai đoạn công tác này, tất cả công tác đều được kết thúc và hoàn thành bằng cách sử dụng những lời phán. Vào thời điểm đó, Jêsus đã làm nhiều việc mà con người không thể hiểu được. Ngài đã lặng lẽ rời đi, và ngày nay vẫn còn nhiều người không hiểu lời của Ngài, sự hiểu biết của họ là sai lầm nhưng vẫn được họ tin là đúng, và không biết rằng mình sai. Cuối cùng, giai đoạn hiện tại này sẽ đưa đến kết thúc hoàn toàn công tác của Đức Chúa Trời, và sẽ khép lại nó. Tất cả sẽ hiểu và biết được về kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Những ý niệm bên trong con người, những ý định của họ, sự hiểu biết sai lầm của họ, những ý niệm của họ về công tác của Đức Giê-hô-va và Jêsus, những quan điểm của họ về dân ngoại, và những sự lệch lạc và sai lầm khác của họ sẽ được chỉnh đốn. Và con người sẽ hiểu mọi con đường đúng đắn của sự sống, tất cả những công tác được Đức Chúa Trời thực hiện, và toàn bộ lẽ thật. Khi điều đó xảy ra, giai đoạn công tác này sẽ đi đến kết thúc. Công tác của Đức Giê-hô-va là sự sáng thế, đó là sự khởi đầu; giai đoạn công tác này là sự kết thúc của công tác, và nó là sự chấm dứt. Vào lúc bắt đầu, công tác của Đức Chúa Trời đã được thực hiện giữa những người được chọn của Y-sơ-ra-ên, và đó là buổi bình minh của một kỷ nguyên mới ở nơi thánh khiết nhất trong mọi nơi. Giai đoạn cuối cùng của công tác được thực hiện ở nơi ô uế nhất của mọi quốc gia, để phán xét thế gian và kết thúc thời đại. Trong giai đoạn đầu tiên, công tác của Đức Chúa Trời đã được thực hiện ở nơi sáng sủa nhất trong mọi nơi, và giai đoạn cuối cùng được thực hiện ở nơi tối tăm nhất trong mọi nơi, và sự tối tăm này sẽ bị xua tan, ánh sáng được mang lại, và tất cả mọi người đều được chinh phục. Khi con người ở nơi ô uế và đen tối nhất trong mọi nơi này đã được chinh phục, và toàn thể dân chúng đã công nhận rằng có một Đức Chúa Trời, là Chúa thật, và mọi người đã bị thuyết phục hoàn toàn, thì thực tế này sẽ được dùng để thực hiện công tác chinh phục khắp toàn thể vũ trụ. Giai đoạn công tác này mang tính tượng trưng: Một khi công tác của thời đại này đã được hoàn thành, công tác quản lý sáu nghìn năm sẽ hoàn toàn kết thúc. Một khi những người ở nơi tối tăm nhất trong mọi nơi đã được chinh phục, hiển nhiên cũng sẽ là như thế ở mọi nơi khác. Như vậy, chỉ có công tác chinh phục ở Trung Quốc mang tính tượng trưng đầy ý nghĩa. Trung Quốc tiêu biểu cho mọi thế lực của sự tối tăm, và người dân Trung Quốc đại diện cho tất cả những ai thuộc về xác thịt, thuộc về Sa-tan, thuộc về thịt và huyết. Chính người dân Trung Quốc là những người đã bị bại hoại nhất bởi con rồng lớn sắc đỏ, là những người có sự chống đối mạnh mẽ nhất đối với Đức Chúa Trời, nhân tính của họ là hèn hạ và ô uế nhất, và vì vậy họ là nguyên mẫu của cả loài người bại hoại. Điều này không có nghĩa là các quốc gia khác không có vấn đề gì cả; các ý niệm của con người đều giống nhau, và mặc dù người dân của các quốc gia này có thể có phẩm chất tốt, nhưng nếu họ không biết Đức Chúa Trời, thì chắc chắn họ chống đối Ngài. Tại sao người Do Thái cũng đã chống đối và thách thức Đức Chúa Trời? Tại sao những người Pha-ri-si cũng đã chống đối Ngài? Tại sao Giu-đa phản bội Jêsus? Vào thời điểm đó, nhiều môn đệ đã không biết Jêsus. Tại sao sau khi Jêsus đã bị đóng đinh và sống lại, mọi người vẫn không tin Ngài? Chẳng phải sự bất tuân của con người hết thảy đều giống nhau sao? Chỉ là người dân Trung Quốc được lấy làm gương, và khi được chinh phục thì họ sẽ trở thành một kiểu mẫu và hình mẫu, và sẽ là sự tham khảo cho những người khác. Tại sao Ta đã luôn phán rằng các ngươi là một sự bổ trợ cho kế hoạch quản lý của Ta? Chính ở người dân Trung Quốc mà sự bại hoại, ô uế, bất chính, chống đối và nổi loạn được thể hiện đầy đủ nhất và được biểu lộ dưới mọi hình thức khác nhau của chúng. Một mặt, họ có phẩm chất kém, và mặt khác, đời sống và tư duy của họ lạc hậu, và những thói quen, môi trường xã hội, gia đình sinh ra họ - tất cả đều nghèo nàn và lạc hậu nhất. Vóc giạc của họ cũng thấp kém. Công tác ở nơi này mang tính tượng trưng, và sau khi công tác thử nghiệm này đã được thành toàn, công tác tiếp theo của Ngài sẽ tiến triển tốt hơn nhiều. Nếu bước công tác này có thể được hoàn thành, thì công tác tiếp theo sẽ khỏi phải bàn. Một khi bước công tác này đã được hoàn thành, thành công lớn sẽ đạt được trọn vẹn, và công tác chinh phục khắp toàn thể vũ trụ sẽ hoàn toàn kết thúc. Trên thực tế, một khi công tác giữa các ngươi đã thành công, điều này sẽ tương đương với thành công khắp toàn thể vũ trụ. Đây là ý nghĩa của lý do Ta bắt các ngươi hành động như một kiểu mẫu và hình mẫu. Sự nổi loạn, chống đối, ô uế, bất chính - tất cả đều được tìm thấy ở những người này, và ở họ đại diện cho mọi sự nổi loạn của loài người. Họ thực sự rất đặc biệt. Do đó, họ được xem hình mẫu của sự chinh phục, và một khi họ đã được chinh phục thì họ sẽ tự nhiên trở thành một kiểu mẫu và hình mẫu cho những người khác. Không có gì mang tính tượng trưng hơn giai đoạn đầu tiên được thực hiện ở Y-sơ-ra-ên: Người Y-sơ-ra-ên là những người thánh khiết nhất và ít bại hoại nhất trong mọi dân tộc, và vì vậy, buổi bình minh của kỷ nguyên mới ở vùng đất này cực kỳ có ý nghĩa. Có thể nói rằng tổ tiên của loài người đã đến từ Y-sơ-ra-ên, và rằng Y-sơ-ra-ên là nơi sinh ra công tác của Đức Chúa Trời. Ban đầu, những người này là những người thánh khiết nhất, và tất cả họ đều đã thờ phượng Đức Giê-hô-va, và công tác của Đức Chúa Trời trong họ đã có thể mang lại những kết quả tốt nhất. Toàn bộ Kinh Thánh ghi lại công tác của hai thời đại: Một là công tác của Thời đại Luật pháp, và một là công tác của Thời đại Ân điển. Cựu Ước ghi lại những lời của Đức Giê-hô-va dành cho dân Y-sơ-ra-ên và công tác của Ngài tại Y-sơ-ra-ên; Tân Ước ghi lại công tác của Jêsus tại Giu-đê. Nhưng tại sao Kinh Thánh lại không có chứa bất kỳ tên Trung Quốc nào? Bởi vì hai phần đầu tiên của công tác của Đức Chúa Trời đã được thực hiện ở Y-sơ-ra-ên, bởi vì người dân Y-sơ-ra-ên là những người được chọn - có nghĩa là họ là những người đầu tiên đã chấp nhận công tác của Đức Giê-hô-va. Họ là những người ít bại hoại nhất trong toàn thể nhân loại, và ban đầu, họ đã có tâm thế tìm kiếm Đức Chúa Trời và tôn kính Ngài. Họ đã vâng theo lời của Đức Giê-hô-va, luôn hầu việc trong đền thờ, và mặc áo choàng hoặc đội mũ của thầy tế lễ. Họ là những người đầu tiên thờ phượng Đức Chúa Trời và là đối tượng đầu tiên cho công tác của Ngài. Những người này đã là một kiểu mẫu và hình mẫu cho toàn thể nhân loại. Họ là những kiểu mẫu và hình mẫu của sự thánh khiết và công chính. Những người như Gióp, Áp-ra-ham, Lót, hoặc Phi-e-rơ và Ti-mô-thê - tất cả họ đều là người Y-sơ-ra-ên, và là những hình mẫu và kiểu mẫu thánh khiết nhất. Y-sơ-ra-ên là quốc gia đầu tiên thờ phượng Đức Chúa Trời giữa nhân loại, và người công chính đã đến từ nơi đây nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác. Đức Chúa Trời đã làm việc trong họ để Ngài có thể quản lý loài người trên khắp vùng đất trong tương lai tốt hơn. Những thành tựu của họ và sự công chính trong sự thờ phượng Đức Giê-hô-va của họ đã được ghi lại, hầu cho chúng có thể làm những hình mẫu và kiểu mẫu cho những người ngoài Y-sơ-ra-ên trong Thời đại Ân điển; và những hành động của họ đã duy trì vài nghìn năm công tác, cho đến tận ngày nay.

Công tác và lối vào (2)


Công tác và lối vào của các ngươi khá là nghèo nàn; con người không coi trọng công tác và thậm chí càng không để ý tới lối vào. Con người không coi những điều này là bài học mà họ phải tiếp nhận; do đó, trong trải nghiệm thuộc linh của mình, hầu như tất cả những gì con người thấy là các thành trì trên trời. Các ngươi không bị yêu cầu nhiều về kinh nghiệm trong công tác, nhưng, là một người sẽ được Đức Chúa Trời hoàn thiện, các ngươi phải học cách làm việc cho Đức Chúa Trời hầu cho các ngươi có thể sớm được hợp lòng Đức Chúa Trời. Qua các thời đại, những người đã làm công tác được gọi là người làm công hay sứ đồ, ám chỉ một số lượng nhỏ những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Tuy nhiên, công tác mà Ta nói đến hôm nay không đơn thuần ám chỉ những người làm công tác hay sứ đồ ấy; nó hướng đến tất cả những người sẽ được hoàn thiện bởi Đức Chúa Trời. Có lẽ có nhiều người ít quan tâm đến điều này, nhưng vì lợi ích của lối vào, tốt nhất là thảo luận về lẽ thật này.

2019-12-19

Công tác và lối vào (1)

Từ khi con người bắt đầu đi đúng hướng trong cuộc sống, có nhiều điều mà họ vẫn còn chưa rõ. Con người vẫn hoàn toàn mù mờ về công tác của Đức Chúa Trời, và về nhiều công tác mình nên làm. Điều này, một mặt, là do sự sai lệch trong trải nghiệm và những hạn chế trong khả năng tiếp nhận của họ; mặt khác, đó là vì công tác của Đức Chúa Trời chưa đưa họ đến giai đoạn này. Vì vậy, mọi người mơ hồ về hầu hết các vấn đề thuộc linh. Các ngươi không chỉ không rõ về những gì mình nên bước vào mà thậm chí càng không biết về công tác của Đức Chúa Trời. Đây không chỉ đơn giản là thiếu sót từ phía các ngươi: Đó là một khiếm khuyết lớn của tất cả những người trong thế giới tôn giáo. Đây là điểm mấu chốt cho lý do tại sao con người không biết đến Đức Chúa Trời, và vì vậy khiếm khuyết này là lỗi chung của tất cả những người tìm kiếm Ngài. Không người nào từng biết Đức Chúa Trời, hoặc đã từng nhìn thấy gương mặt thực của Ngài. Chính vì điều này mà công tác của Đức Chúa Trời trở nên gian truân như dời núi lấp biển. Có bao nhiêu người đã hy sinh mạng sống của mình cho công tác của Đức Chúa Trời; có bao nhiêu người đã bị xua đuổi vì công tác của Ngài; có bao nhiêu người, vì lợi ích cho công tác của Ngài, đã bị hành hạ đến chết; có bao nhiêu người với đôi mắt đẫm lệ vì tình yêu dành cho Đức Chúa Trời, đã ra đi một cách bất công; có bao nhiêu người đã bị đàn áp một cách tàn nhẫn và vô nhân đạo…? Những thảm kịch này xảy ra chẳng phải đều là do sự thiếu hiểu biết của con người về Đức Chúa Trời hay sao? Làm thế nào một người không biết về Đức Chúa Trời có thể có mặt mũi để đến trước Ngài? Làm thế nào một người tin vào Đức Chúa Trời nhưng lại làm khổ Ngài có thể có mặt mũi để đến trước mặt Ngài? Đây không chỉ là thiếu sót của những ai trong thế giới tôn giáo, mà còn là điểm chung của cả họ và các ngươi. Con người tin vào Đức Chúa Trời mà không biết đến Ngài; chỉ riêng vì lý do này mà trong lòng họ không tôn kính Ngài và cũng không kính sợ Ngài. Thậm chí có những người, với sự cầu kỳ và trọng thể, thực hiện công tác mà họ tự hình dung ra trong dòng chảy này, và tiếp tục thực hiện công tác của Đức Chúa Trời dựa trên nhu cầu riêng và khao khát vô độ của bản thân. Nhiều người hành động điên cuồng, không tôn kính Đức Chúa Trời mà chỉ làm theo ý định của riêng mình. Chẳng phải đây là hiện thân hoàn hảo cho lòng ích kỷ của con người sao? Chẳng phải những điều này mô tả sự giả dối quá mức của con người sao? Con người có thể thực sự rất thông minh, nhưng làm sao tài năng của họ có thể thay thế được công tác của Đức Chúa Trời? Con người có thể thực sự quan tâm đến gánh nặng của Đức Chúa Trời, nhưng họ không thể hành động quá ích kỷ. Có phải những hành động của con người thực sự thiêng liêng? Có phải bất kỳ ai cũng có thể chắc chắn hoàn toàn? Để làm chứng cho Đức Chúa Trời, để thừa hưởng vinh quang của Ngài - Đức Chúa Trời đang tạo ra ngoại lệ và nâng đỡ con người; làm thế nào họ có thể xứng đáng được? Công tác của Đức Chúa Trời chỉ mới bắt đầu, những lời của Ngài chỉ mới bắt đầu được nói ra. Vào thời điểm này, con người cảm thấy hài lòng với bản thân mình; điều đó chẳng phải đơn giản là sự sỉ nhục hay sao? Những gì con người hiểu biết là quá ít. Ngay cả nhà lý luận tài năng nhất, nhà diễn thuyết có tài hùng biện nhất, cũng không thể mô tả được tất cả sự dư dật của Đức Chúa Trời, thì các ngươi có thể diễn đạt được bao nhiêu? Tốt nhất các ngươi không nên đặt giá trị của riêng mình cao hơn các tầng trời, mà nên xem bản thân mình thấp hơn những người ít hiểu biết lý lẽ nhất đang tìm kiếm tình yêu với Đức Chúa Trời. Đây là con đường mà các ngươi sẽ bước vào: thấy bản thân mình thấp hơn tất cả những người khác một bậc. Tại sao lại đặt mình quá cao? Tại sao lại đánh giá mình cao như vậy? Trên hành trình dài của cuộc đời, các ngươi mới chỉ bước vài bước đầu tiên. Tất cả những gì các ngươi nhìn thấy là cánh tay của Đức Chúa Trời, chứ không phải là toàn thân Đức Chúa Trời. Các ngươi phải có nhiệm vụ thấy nhiều công tác của Đức Chúa Trời hơn, để khám phá thêm về những gì các ngươi cần bước vào, vì các ngươi đã thay đổi quá ít.

2019-12-18

Chỉ bằng cách trải qua sự tôi luyện con người mới có thể thật sự yêu mến Đức Chúa Trời

Con nguời nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tôi luyện? Sau khi trải nghiệm sự tôi luyện, trong quá trình tôi luyện thì con người có thể thật sự ca tụng Đức Chúa Trời và biết chính xác họ đang thiếu sót bao nhiêu. Càng được tôi luyện thì ngươi càng có thể từ bỏ xác thịt; càng được tôi luyện thì con người càng yêu mến Đức Chúa Trời hơn. Đây chính là điều các ngươi nên thông hiểu. Tại sao con người phải được tôi luyện? Sự tôi luyện nhằm đạt được hiệu quả gì? Tầm quan trọng của việc tôi luyện mà Đức Chúa Trời thực hiện trong con người là gì? Nếu ngươi thực sự tìm kiếm Đức Chúa Trời rồi cảm nghiệm được sự tôi luyện của Ngài đến một mức độ nào đó ngươi sẽ cảm thấy rằng điều đó thật tốt và đó là điều cần thiết nhất. Con nguời nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tôi luyện? Bằng cách dùng sự quyết tâm yêu mến Đức Chúa Trời để chấp nhận sự tôi luyện của Ngài: Trong quá trình tôi luyện ngươi cảm biết đau đớn trong lòng như bị một luỡi dao đâm xoáy vào tim, tuy nhiên ngươi sẵn sàng làm thỏa lòng Đức Chúa Trời bằng tấm lòng mình, tấm lòng yêu mến Đức Chúa Trời và ngươi không hề muốn quan tâm đến xác thịt. Đây là ý nghĩa của việc thực hành tình yêu dành cho Đức Chúa Trời. Ngươi đau bên trong, và ngươi chịu đau đớn đến một mức nào đó, tuy nhiên ngươi vẫn sẵn lòng đến trước mặt Đức Chúa Trời, và cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Chúa Trời! Con không thể rời xa Người. Dẫu rằng có bóng tối trong con thì con vẫn muốn làm đẹp lòng Người; Người biết tấm lòng của con và con ước rằng Người dành cho con nhiều tình yêu thương hơn nữa”. Đây là sự luyện tập trong suốt quá trình tôi luyện. Nếu ngươi dùng lòng yêu mến Đức Chúa Trời như là một nền tảng, thì sự tôi luyện có thể đem ngươi đến gần Đức Chúa Trời hơn và làm cho ngươi trở nên mật thiết hơn với Ngài. Vì ngươi tin Đức Chúa Trời, nên ngươi phải dâng lòng mình trước Đức Chúa Trời. Nếu ngươi dâng và trải lòng ngươi ra trước Đức Chúa Trời, thì trong quá trình tôi luyện ngươi sẽ không thể từ chối Đức Chúa Trời, hoặc rời xa Ngài. Bằng cách này thì mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên gần gũi hơn và bình thường hơn bao giờ hết và mối thông công giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên thường xuyên hơn bao giờ hết. Nếu ngươi luôn thực hành theo cách này thì ngươi sẽ dành nhiều thời gian hơn trong sự sáng của Đức Chúa Trời, và nhiều thời gian hơn dưới sự chỉ dẫn của lời Ngài, có thể càng có nhiều thay đổi trong tâm tính ngươi, và sự hiểu biết của ngươi ngày càng gia tăng. Khi ngày ấy đến và những thử thách của Đức Chúa Trời thình lình giáng trên ngươi, ngươi chẳng những có thể đứng bên cạnh Đức Chúa Trời mà còn có thể làm chứng về Ngài. Lúc đó, ngươi cũng sẽ giống như Gióp và Phi-e-rơ. Khi đã làm chứng về Đức Chúa Trời thì ngươi sẽ thực sự yêu mến Ngài và sẽ vui lòng phó mạng sống mình cho Ngài; ngươi sẽ là chứng nhân của Đức Chúa Trời và là người được Đức Chúa Trời yêu thương. Tình yêu thương đã trải qua sự tôi luyện thì mạnh mẽ và không hề yếu đuối. Bất kể khi nào hay bằng cách thức nào mà Đức Chúa Trời bắt ngươi phải chịu những thử thách của Ngài, ngươi đều có thể bất kể sống chết , vui mừng gạt bỏ mọi thứ sang một bên vì Đức Chúa Trời và vui lòng gánh chịu bất cứ điều gì vì Ngài – và như thế tình yêu thương của ngươi sẽ trở nên thánh khiết và đức tin của ngươi sẽ trở thành đức tin thật. Chỉ đến lúc đó ngươi mới là người được Đức Chúa Trời thực sự yêu mến và được làm cho toàn vẹn bởi Đức Chúa Trời.

2019-12-17

Chỉ những ai nhận biết Đức Chúa Trời mới có thể làm chứng cho Chúa

Tin vào Đức Chúa Trời và nhận biết Đức Chúa Trời là luật pháp của Thiên đàng và nguyên tắc của trần gian, và ngày nay—trong một thời đại mà Đức Chúa Trời nhập thể đang đích thân thực hiện công tác của Ngài—là một thời điểm đặc biệt tốt để nhận biết Chúa. Việc làm hài lòng Đức Chúa Trời là điều đạt được bằng cách xây dựng trên nền tảng của sự hiểu biết ý Chúa, và để hiểu được ý Chúa, cần phải có một số kiến thức về Chúa. Kiến thức về Đức Chúa Trời này là khải tượng mà một người tin Chúa phải có; nó là nền tảng cho niềm tin vào Chúa của con người. Thiếu kiến thức này, niềm tin vào Chúa của con người sẽ tồn tại trong một trạng thái mơ hồ, giữa lý thuyết trống rỗng. Ngay cả khi những người như thế này quyết tâm theo Chúa, họ cũng sẽ chẳng đạt được điều gì. Tất cả những ai không đạt được điều gì trong dòng chảy này là những kẻ sẽ bị loại bỏ—họ đều là những kẻ ăn bám. Bất kỳ bước nào trong công tác của Chúa mà ngươi trải nghiệm, ngươi nên được kèm theo một khải tượng vĩ đại. Nếu không, ngươi sẽ khó chấp nhận từng bước của công tác mới, vì công tác mới của Chúa nằm ngoài khả năng tưởng tượng của con người, và nằm ngoài giới hạn của quan niệm con người. Và vì vậy, nếu thiếu người chăn để chăm sóc con người, nếu thiếu người chăn để tham gia vào sự thông công về các khải tượng, thì con người không có khả năng chấp nhận công tác mới này. Nếu con người không thể nhận được các khải tượng, thì họ không thể nhận được công tác mới của Chúa, và nếu con người không thể vâng theo công tác mới của Chúa, thì con người sẽ không thể hiểu được ý Chúa, và vì vậy kiến thức về Chúa của họ sẽ chẳng là gì cả. Trước khi con người thực hiện lời Chúa, họ phải biết lời Chúa, nghĩa là họ phải hiểu ý Chúa; chỉ bằg cách này thì lời Chúa mới có thể được thực hiện một cách chính xác và phù hợp với ý Chúa. Đây là điều mà tất cả những ai tìm kiếm lẽ thật phải sở hữu, và đó cũng là quá trình mà tất cả những ai cố gắng để nhận biết Chúa phải trải qua. Quá trình nhận biết lời Chúa là quá trình nhận biết Đức Chúa Trời, và cũng là quá trình nhận biết công tác của Chúa. Và vì vậy, việc nhận biết các khải tượng không chỉ đề cập đến việc nhận biết nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể, mà còn bao gồm cả việc nhận biết lời và công tác của Chúa. Từ lời của Chúa, mọi người hiểu được ý Chúa, và từ công tác của Chúa, họ biết được tâm tính của Chúa và biết được Chúa là gì. Niềm tin vào Chúa là bước đầu tiên để nhận biết Chúa. Quá trình tiến lên từ niềm tin ban đầu này vào Chúa cho đến niềm tin sâu sắc nhất vào Ngài là quá trình nhận biết Chúa, và là quá trình trải nghiệm công tác của Chúa. Nếu ngươi chỉ tin vào Đức Chúa Trời vì lợi ích của việc tin vào Chúa, chứ không phải vì lợi ích của việc nhận biết Ngài, thì đức tin của ngươi không thực tế, và đức tin của ngươi không thể trở nên thuần khiết—điều này là chắc chắn. Nếu trong quá trình trải nghiệm công tác của Chúa, con người dần dần biết đến Chúa, thì tâm tính của họ sẽ dần thay đổi, và niềm tin của họ sẽ càng trở nên chân thật. Theo cách này, khi con người đạt được thành công trong niềm tin của mình vào Chúa thì họ sẽ hoàn toàn có được Chúa. Lý do khiến Đức Chúa Trời đã nỗ lực nhiều đến vậy để trở nên xác thịt lần thứ hai nhằm đích thân thực hiện công tác của Ngài là hầu cho con người có thể nhận biết Ngài và nhìn thấy Ngài. Nhận biết Chúa[a] là hiệu quả cuối cùng phải đạt được khi công tác của Đức Chúa Trời kết thúc; đó là yêu cầu cuối cùng mà Chúa đưa ra cho nhân loại. Lý do Ngài làm điều này là vì lời chứng cuối cùng của Ngài; chính vì để cho con người cuối cùng có thể hoàn toàn hướng về Ngài mà Ngài thực hiện công tác này. Con người chỉ có thể trở nên yêu Chúa bằng cách nhận biết Chúa, và để yêu Chúa thì họ phải nhận biết Chúa. Bất kể họ tìm kiếm như thế nào, hoặc họ cố gắng để đạt được những gì, họ phải có thể đạt được kiến thức về Chúa. Chỉ bằng cách này thì con người mới có thể làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Chỉ bằng cách nhận biết Chúa thì con người mới có thể có đức tin thật vào Chúa, và chỉ bằng cách nhận biết Chúa thì họ mới có thể thực sự tôn kính và vâng lời Chúa. Những người không nhận biết Chúa sẽ không bao giờ đạt đến sự vâng lời và tôn kính Chúa thực sự. Việc nhận biết Đức Chúa Trời bao gồm việc nhận biết tâm tính của Ngài, hiểu ý muốn của Ngài, và biết Ngài là gì. Tuy nhiên, cho dù người ta nhận biết khía cạnh nào, thì mỗi khía cạnh đều yêu cầu con người phải trả giá, và đòi hỏi ý chí để vâng lời, nếu thiếu những điều này thì sẽ không ai có thể tiếp tục đi theo cho đến cuối cùng được. Công tác của Đức Chúa Trời quá mâu thuẫn với các quan niệm của con người, tâm tính của Chúa và bản chất của Chúa quá khó để con người nhận biết được, và tất cả những gì Chúa phán và làm đều quá khó hiểu đối với con người: Nếu con người muốn đi theo Chúa mà không sẵn sàng vâng lời Ngài, thì con người sẽ chẳng đạt được điều gì cả. Từ khi sáng thế cho đến ngày nay, Đức Chúa Trời đã thực hiện nhiều công tác khó hiểu đối với con người và con người đã thấy khó mà chấp nhận, và Chúa đã phán nhiều điều khiến cho các quan niệm của con người khó hàn gắn được. Nhưng Ngài chưa bao giờ ngừng công tác của Ngài vì con người có quá nhiều khó khăn; thay vào đó, Ngài đã tiếp tục làm việc và phán bảo, và mặc dù rất nhiều “người lính” đã ngã xuống bên vệ đường, nhưng Ngài vẫn đang làm công tác của mình, và tiếp tục không ngừng để lựa chọn hết nhóm người này đến nhóm người khác, là những người sẵn sàng quy phục công tác mới của Ngài. Ngài không thương hại cho “những anh hùng” đã ngã xuống ấy, và thay vào đó lại trân trọng những người chấp nhận công tác và những lời mới của Ngài. Nhưng Ngài làm việc theo cách này, từng bước một, nhằm mục đích gì? Tại sao Ngài luôn loại bỏ một số người và lựa chọn những người khác? Tại sao Ngài luôn sử dụng phương pháp như vậy? Mục đích công tác của Ngài là để cho con người nhận biết Ngài, và do đó được Ngài thu nhận. Nguyên tắc trong công tác của Ngài là làm việc trên những người có thể quy phục công tác Ngài làm ngày nay, và không làm việc trên những người quy phục công tác Ngài đã làm trong quá khứ nhưng lại phản đối công tác Ngài làm ngày nay. Đây là lý do tại sao Ngài đã loại bỏ rất nhiều người.

2019-12-16

Bài nói ngắn về “Vương quốc Một Nghìn năm đã đến”

Các ngươi nghĩ gì về khải tượng của Vương quốc Một Nghìn năm? Một số người nghĩ về điều đó rất nhiều, và họ nói rằng: “Vương quốc Một Nghìn năm sẽ kéo dài một nghìn năm trên đất, vậy nếu các thuộc viên lớn tuổi của hội thánh không kết hôn, họ có cần phải kết hôn không? Gia đình tôi không có tiền, tôi có nên bắt đầu kiếm tiền không? …” Vương quốc Một Nghìn năm là gì? Các ngươi có biết không? Mọi người đều mù mờ và phải chịu một thử thách to lớn. Trên thực tế, Vương quốc Một Nghìn năm vẫn chưa đến một cách chính thức. Trong giai đoạn làm cho con người hoàn thiện, Vương quốc Một Nghìn năm chỉ là một thứ còn non trẻ; vào thời điểm của Vương quốc Một Nghìn năm mà Đức Chúa Trời nói đến, con người lúc đấy đã được làm cho hoàn thiện. Trước đây, người ta nói rằng mọi người sẽ giống như các thánh đồ và đứng vững vàng trong vùng đất của Si-ni. Chỉ khi con người được làm cho hoàn thiện - khi họ trở nên các thánh đồ được Đức Chúa Trời nói đến - thì lúc ấy Vương quốc Một Nghìn năm đã đến. Khi Đức Chúa Trời làm cho con người hoàn thiện, Ngài thanh tẩy họ, và họ càng tinh sạch bao nhiêu thì họ càng được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện bấy nhiêu. Khi sự ô uế, nổi loạn, chống đối và những điều của xác thịt bên trong ngươi bị trục xuất, khi ngươi đã được thanh tẩy, thì ngươi sẽ được Đức Chúa Trời yêu mến (nói cách khác, ngươi sẽ là một thánh đồ); khi ngươi được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện và trở nên một thánh đồ, ngươi sẽ ở trong Vương quốc Một Nghìn năm. Bây giờ là Thời đại Vương quốc. Trong Thời đại Vương quốc Một Nghìn năm, mọi người sẽ dựa vào lời Chúa Trời để sống, tất cả các quốc gia sẽ chịu lấy danh Chúa, và tất cả sẽ đến để đọc lời Chúa. Lúc đó, một số người sẽ gọi bằng điện thoại, một số người sẽ fax… họ sẽ sử dụng mọi phương tiện để tiếp cận lời Chúa, và các ngươi cũng sẽ chịu lấy những lời của Đức Chúa Trời. Tất cả điều này là những gì sẽ xảy ra sau khi mọi người được làm cho hoàn thiện. Ngày nay, mọi người được làm cho hoàn thiện, được tinh luyện, được khai sáng và được hướng dẫn thông qua lời; đây là Thời đại Vương quốc, nó là giai đoạn con người được làm cho hoàn thiện và nó không có liên quan đến Thời đại Vương quốc Một Nghìn năm. Trong Thời đại Vương quốc Một Nghìn năm, mọi người đã được làm cho hoàn thiện và những tâm tính bại hoại bên trong họ đã được thanh tẩy. Vào thời điểm đó, những lời Đức Chúa Trời phán sẽ hướng dẫn mọi người từng bước một, và mặc khải tất cả những lẽ mầu nhiệm về công tác của Đức Chúa Trời từ lúc sáng thế cho đến ngày nay, và những lời của Ngài sẽ cho mọi người biết về những hành động của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại và mọi thời kỳ, cách Ngài hướng dẫn mọi người bên trong, công tác Ngài làm trong cõi thuộc linh, và sẽ cho họ biết về những động lực của cõi thuộc linh. Chỉ khi đó nó mới thực sự trở thành Thời đại của Lời; giờ đây nó chỉ đơn thuần ở trong một trạng thái non trẻ mà thôi. Nếu mọi người không được làm cho hoàn thiện và được thanh tẩy thì họ sẽ không có cách nào sống được một nghìn năm trên đất, và xác thịt của họ chắc chắn sẽ hư nát; nếu mọi người được thanh tẩy bên trong, và họ không còn thuộc về Sa-tan và xác thịt nữa, thì họ sẽ vẫn còn sống trên đất. Trong giai đoạn này, ngươi vẫn còn mù mờ, và mọi thứ các ngươi trải nghiệm là việc yêu mến Đức Chúa Trời và làm chứng cho Ngài mỗi ngày các ngươi sống trên đất.

2019-12-15

Chỉ có yêu mến Đức Chúa Trời mới là thật sự tin nơi Đức Chúa Trời

Hôm nay, khi các ngươi nỗ lực để yêu mến và biết đến Đức Chúa Trời, trong một khía cạnh các ngươi phải chịu đựng gian khổ và sự tinh luyện, và trong một khía cạnh khác, các ngươi phải trả một giá nào đó. Không có bài học nào thâm thúy hơn bài học yêu mến Đức Chúa Trời, và có thể nói rằng bài học người ta học từ cả một đời đức tin là cách để yêu mến Đức Chúa Trời. Nghĩa là, nếu ngươi tin nơi Chúa thì ngươi phải yêu mến Chúa. Nếu ngươi chỉ tin Đức Chúa Trời nhưng không yêu mến Ngài, chưa đạt được sự hiểu biết về Chúa, và chưa bao giờ yêu mến Chúa bằng tình yêu thật phát xuất từ trong lòng ngươi, thì đức tin của ngươi nơi Đức Chúa Trời là vô ích; nếu trong đức tin của ngươi nơi Chúa, ngươi không yêu mến Chúa, thì ngươi sống hoài công vô ích, và cả đời ngươi là cuộc đời hèn mọn nhất trong hết thảy các cuộc đời. Nếu suốt cả đời ngươi chưa bao giờ yêu mến hay làm hài lòng Đức Chúa Trời, vậy mục đích của cuộc sống ngươi là gì? Và mục đích của đức tin của ngươi nơi Đức Chúa Trời là gì? Chẳng phải đó là sự lãng phí công sức sao? Nghĩa là, nếu người ta tin và yêu mến Đức Chúa Trời, thì họ phải trả một cái giá nào đó. Thay vì cố hành động một cách nhất định bề ngoài, họ nên tìm kiếm sự thông sáng thật trong thâm tâm của mình. Nếu ngươi say mê việc ca hát và nhảy múa, nhưng không thể đưa lẽ thật vào thực hành, thì có thể nào nói ngươi yêu mến Đức Chúa Trời không? Yêu mến Chúa đòi hỏi sự tìm kiếm ý muốn của Chúa trong mọi sự, và ngươi dò xét sâu thẳm bên trong khi bất cứ điều gì xảy đến với ngươi, cố gắng nắm bắt ý muốn của Chúa, và cố gắng nhận biết ý muốn của Chúa trong vấn đề này, điều Ngài mong muốn ngươi đạt được, và cách ngươi phải lưu tâm đến ý muốn của Ngài. Chẳng hạn như: Việc gì đó xảy ra và đỏi hỏi ngươi phải chịu đựng sự gian khổ, trong thời gian đó ngươi phải hiểu ý muốn Đức Chúa Trời là gì, và cách mà ngươi phải lưu tâm đến ý muốn của Ngài. Ngươi không được chiều lòng chính mình: Trước tiên hãy gạt bản thân mình sang một bên. Không có gì hèn hạ hơn xác thịt. Ngươi phải cố gắng làm đẹp lòng Chúa, và phải làm tròn bổn phận của ngươi. Với những suy nghĩ như thế, Đức Chúa Trời sẽ mang sự khai sáng đặc biệt đến cho ngươi trong vấn đề này, và lòng ngươi cũng sẽ tìm thấy sự an ủi. Dù là chuyện lớn hay chuyện nhỏ, khi việc gì đó xảy ra với ngươi, trước tiên ngươi phải gạt bản thân mình sang một bên và xem xác thịt là hèn mọn nhất trong mọi sự. Ngươi càng thỏa mãn xác thịt, nó càng đòi hỏi quá đáng; nếu ngươi thỏa mãn nó lần này, lần sau nó sẽ đòi hỏi nhiều hơn, và khi việc này tiếp tục, ngươi thậm chí càng trở nên yêu xác thịt nhiều hơn. Xác thịt luôn có những tham muốn quá độ, nó luôn đòi hỏi ngươi phải thỏa mãn nó, đòi hỏi ngươi phải đáp ứng nó bên trong, cho dù đó là trong những thứ ngươi ăn, thứ ngươi mặc hay lúc nổi cơn tam bành, hay nuông chiều các yếu điểm và sự lười biếng của chính mình… Ngươi càng thỏa mãn xác thịt, các tham muốn của nó càng lớn, và xác thịt càng trở nên trụy lạc, cho tới khi nó chạm ngưỡng mà xác thịt của con người ta chứa chấp các ý niệm còn ranh mãnh hơn, và bất tuân Chúa, tự tôn nó lên, và trở nên nghi ngờ công tác của Đức Chúa Trời. Ngươi càng thỏa mãn xác thịt, thì các yếu điểm của xác thịt càng lớn; ngươi sẽ luôn cảm thấy rằng không ai cảm thông các yếu điểm của ngươi, ngươi sẽ luôn tin rằng Đức Chúa Trời đã đi quá xa, và ngươi sẽ nói: “Sao Đức Chúa Trời lại có thể tàn nhẫn như thế? Tại sao Ngài không cho người ta được nghỉ ngơi đôi chút?” Khi người ta quá nuông chiều xác thịt, và yêu chiều nó quá nhiều, thì họ sẽ hủy hoại chính bản thân mình. Nếu ngươi thật sự yêu mến Chúa, và không nuông chiều xác thịt, thì ngươi sẽ thấy mọi sự Đức Chúa Trời làm là rất đúng đắn, và rất tốt lành, và Ngài rủa sả ngươi về sự phản nghịch và phán xét ngươi về sự bất chính của ngươi là chính đáng. Sẽ có những thời điểm Đức Chúa Trời sửa phạt và chỉnh đốn ngươi, và dấy lên một môi trường để tinh luyện ngươi, buộc ngươi phải đến trước Ngài - và ngươi sẽ luôn cảm thấy điều Đức Chúa Trời đang làm là tuyệt vời. Vì vậy, ngươi sẽ cảm thấy như thể không có đau đớn gì nhiều, và rằng Đức Chúa Trời rất đáng mến. Nếu ngươi nuông chiều các yếu điểm của xác thịt, và nói rằng Đức Chúa Trời đi quá xa, thì ngươi sẽ luôn cảm thấy đau đớn, sẽ luôn chán nản thất vọng, và ngươi sẽ không rõ về toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời, và nó sẽ như thể Đức Chúa Trời chẳng hề cảm thông với yếu điểm của con người, và không biết đến những khó khăn của con người. Và vì thế ngươi sẽ cảm thấy khốn khổ và cô độc, như thể ngươi đã chịu đựng sự bất công lớn, và lúc này ngươi sẽ bắt đầu ca thán. Ngươi càng nuông chiều các yếu điểm của xác thịt theo cách này, ngươi sẽ càng cảm thấy Đức Chúa Trời đi quá xa, cho tới khi nó trở nên quá tệ đến nỗi ngươi phủ nhận công tác của Đức Chúa Trời, bắt đầu chống đối Đức Chúa Trời, và trở nên đầy dẫy sự bất tuân. Vì vậy, ngươi phải chống lại xác thịt và không nuông chiều nó: “Chồng (vợ), con cái, tiền đồ, hôn nhân, gia đình của tôi - chẳng có gì trong số đó là quan trọng! Trong lòng tôi chỉ có Đức Chúa Trời, và tôi phải gắng hết mình làm đẹp lòng Chúa, và không thỏa mãn xác thịt.” Ngươi phải có quyết tâm này. Nếu ngươi luôncó được quyết tâm như thế, thì khi ngươi đưa lẽ thật vào thực hành, và gạt bản thân mình sang một bên, ngươi sẽ có thể làm thế mà không phải nỗ lực nhiều. Chuyện kể rằng có một người nông dân nhìn thấy một con rắn bị đông cứng trên đường. Người nông dân nhặt nó lên và giữ nó nơi ngực mình, sau khi con rắn tỉnh lại, nó đã cắn chết người nông dân ấy. Xác thịt của con người giống con rắn: Bản chất của nó là làm tổn hại đời sống của họ - và khi nó hoàn toàn được theo ý mình, sự sống của ngươi bị tước đi. Xác thịt thuộc về Sa-tan. Bên trong nó là những sự thèm muốn vô độ, nó chỉ nghĩ cho bản thân, nó muốn tận hưởng sự thoải mái và ham thích sự nhàn rỗi, đắm mình trong sự uể oải và lười biếng, và sau khi đã thỏa mãn nó tới một ngưỡng nhất định thì cuối cùng ngươi sẽ bị nó. Nghĩa là, nếu ngươi thoả mãn nó lần này, lần tới nó sẽ đến và đòi hỏi nhiều hơn. Nó luôn có những sự thèm muốn vô độ và những đòi hỏi mới, và lợi dụng việc ngươi nuông chiều xác thịt để khiến ngươi yêu chiều nó nhiều hơn và sống giữa các lạc thú của nó - và nếu ngươi không vượt quađược nó, cuối cùng ngươi sẽ hủy hoại chính mình. Ngươi có thể đạt được sự sống trước Đức Chúa Trời hay không, và kết cuộc của ngươi thế nào, tùy thuộc vào cách ngươi chống lại xác thịt. Đức Chúa Trời đã cứu ngươi, đã chọn và tiền định ngươi, song nếu hôm nay ngươi không sẵn lòng làm đẹp lòng Ngài, ngươi không sẵn lòng đưa lẽ thật vào thực hành, ngươi không sẵn lòng chống lại chính xác thịt của mình với một tấm lòng thật sự yêu mến Đức Chúa Trời, thì cuối cùng ngươi sẽ hủy hoại chính mình, và vì vậy sẽ chịu đựng sự đau đớn cùng cực. Nếu ngươi luôn nuông chiều thịt, Sa-tan sẽ dần dần nuốt chửng ngươi bên trong và khiến ngươi không còn sự sống hay sự chạm đến của Thần, cho đến ngày bên trong ngươi hoàn toàn tối tăm. Khi ngươi sống trong bóng tối, ngươi sẽ bị Sa-tan giam hãm, ngươi sẽ không còn có Chúa trong lòng mình, và lúc đó ngươi sẽ chối bỏ sự tồn tại của Đức Chúa Trời và rời bỏ Ngài. Vì vậy, nếu ngươi mong muốn yêu mến Đức Chúa Trời, ngươi phải trả giá là sự đau đớn và chịu đựng gian khổ. Không cần sự sốt sắng và gian khổ bề ngoài, đọc nhiều hơn và xông xáo thêm; mà thay vào đó, ngươi phải gạt sang một bên những thứ bên trong ngươi như là: các tư tưởng ngông cuồng, các lợi ích cá nhân, các mối quan tâm, các quan niệm và các động cơ của riêng ngươi. Như thế mới là ý muốn của Đức Chúa Trời.

2019-12-14

Những người đã có tâm tính thay đổi là những người đã bước vào hiện thực của Lời Đức Chúa Trời

tin Chúa,cầu nguyện,

Bước đầu tiên của con đường mà Đức Thánh Linh đi trong con người trước hết là để kéo tâm họ ra khỏi mọi người, sự vật và sự việc, và vào trong lời của Đức Chúa Trời, hầu cho tâm con người sẽ tin rằng lời của Đức Chúa Trời là tuyệt đối không thể nghi ngờ và hoàn toàn đúng. Nếu ngươi tin vào Đức Chúa Trời, ngươi phải tin vào lời của Ngài; nếu, sau nhiều năm đã tin vào Đức Chúa Trời, ngươi vẫn không thể biết được con đường Đức Thánh Linh đi, thì ngươi có thực sự là một tín đồ không? Để đạt được cuộc sống con người bình thường - một cuộc sống con người bình thường mà có quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời - trước tiên ngươi phải tin vào lời của Ngài. Nếu ngươi chưa đạt được bước công tác đầu tiên của Đức Thánh Linh trong con người, thì ngươi không có nền tảng. Nếu ngay cả những nguyên tắc thiết yếu nhất ngươi cũng không nắm bắt được, thì ngươi sẽ bước đi trên con đường phía trước như thế nào? Đặt chân trên đúng con đường mà qua đó Đức Chúa Trời hoàn thiện con người nghĩa là bước vào đúng con đường công tác hiện tại của Đức Thánh Linh; nó có nghĩa là đặt chân trên con đường Đức Thánh Linh đi. Ngay lúc này, con đường Đức Thánh Linh đi là những lời hiện tại của Đức Chúa Trời. Vì vậy, nếu con người định đặt chân trên con đường của Đức Thánh Linh, thì họ phải vâng lời cũng như ăn uống những lời hiện tại của Đức Chúa Trời nhập thể. Công tác Ngài đang làm là công tác của lời; mọi thứ đều bắt đầu từ lời Ngài, và mọi thứ đều được thiết lập trên cơ sở của lời Ngài, trên lời hiện tại của Ngài. Cho dù là để chắc chắn về Đức Chúa Trời nhập thể hay để biết Ngài, mỗi việc đều đòi hỏi đặt nhiều nỗ lực hơn vào lời Ngài. Nếu không, con người sẽ chẳng hoàn thành được việc gì và chẳng còn lại gì. Chỉ bằng cách xây dựng trên nền tảng của việc ăn uống lời của Đức Chúa Trời, và qua đó biết đến Ngài và làm hài lòng Ngài, người ta mới có thể dần xây dựng được một mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời. Đối với con người, không có sự hợp tác nào với Đức Chúa Trời tốt hơn việc ăn uống những lời của Ngài và đưa chúng vào thực hành. Thông qua sự thực hành như vậy mà họ có thể đứng vững nhất trong lời chứng của mình khi là dân sự của Ngài. Khi con người hiểu và có thể vâng theo bản chất lời hiện tại của Đức Chúa Trời, thì họ đang sống trên con đường được hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh và đã đặt chân trên đúng con đường mà qua đó Đức Chúa Trời hoàn thiện con người. Trước đây, chỉ đơn giản bằng cách tìm kiếm ân điển của Đức Chúa Trời, hoặc sự bình an và niềm vui, con người có thể đạt được công của Đức Chúa Trời. Nhưng bây giờ thì khác. Không có lời của Đức Chúa Trời nhập thể, không có hiện thực của lời Ngài, con người sẽ không thể có được sự chấp thuận từ Đức Chúa Trời, và sẽ đều bị Đức Chúa Trời loại bỏ. Để đạt đến một đời sống tâm linh bình thường, trước hết người ta phải ăn uống lời của Đức Chúa Trời và đưa nó vào thực hành, và sau đó, trên nền tảng này, thiết lập một mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời. Ngươi hợp tác như thế nào? Ngươi đứng vững trong lời chứng của mình khi là dân sự của Ngài như thế nào? Làm thế nào ngươi xây dựng một mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời?

2019-12-13

Chương 27

Hành vi của con người chưa bao giờ làm lay động trái tim Ta, chưa từng được Ta xem là quý giá. Trong mắt của con người, Ta luôn đối xử rất nghiêm khắc và luôn thực thi thẩm quyền đối với con người. Trong tất cả các hành động của con người, hầu như không có bất kỳ điều gì được làm cho Ta, không có bất kỳ điều gì đứng vững trước mắt Ta. Cuối cùng, tất cả mọi thứ của con người đã âm thầm sụp đổ trước mặt Ta, sau đó, Ta mới thể hiện hành động của mình để tất cả mọi người biết Ta qua thất bại của chính họ. Bản chất của con người không hề thay đổi, những gì trong lònghọ không hợp với ý Ta, không phải là thứ Ta cần. Điều Ta ghét nhất là sự ngoan cố và tái phạm của con người nhưng không biết sức mạnh nào đã thúc giục con người luôn không biết Ta, luôn tránh xa Ta, không làm theo ý Ta trước mặt Ta mà lại làm những việc chống lại Ta ở sau lưng Ta. Lẽ nào đây là lòng trung thành của con người? Là tình yêu của con người dành cho Ta? Tại sao con người không thể ăn năn, làm lại từ đầu? Tại sao con người luôn muốn sống trong đầm lầy thay vì một nơi không có bùn lầy? Lẽ nào là Ta đã bạc đãi họ? Lẽ nào là Ta đã chỉ sai đường cho họ? Lẽ nào Ta đang dẫn họ xuống địa ngục? Con người đều sẵn sàng sống trong “địa ngục.” Khi ánh sáng đến, đôi mắt của họ lập tức bị mù, bởi vì mọi thứ mà họ có đều đến từ địa ngục nhưng con người lại không hề hay biết, chỉ là đang tận hưởng “phước lành địa ngục” và ôm vào trong lòng như báu vật, sợ Ta cướp đi mất, để lại họ không có “nguồn sống.” Con người đều “sợ” Ta, vì thế, khi Ta đến trần gian, họ đều xa lánh Ta, không muốn đến gần Ta vì họ không muốn “chuốc lấy rắc rối cho chính mình,” thay vào đó muốn chung sống hòa thuận với gia đình, tận hưởng “hạnh phúc trên đất.” Tuy nhiên, Ta lại không cho phép con người cầu được ước thấy, bởi vì Ta đến là để phá hoại “gia đình” của con người. Khi Ta đến, sự bình an sẽ biến mất khỏi ngôi nhà của họ. Ta muốn đập tan các nước, huống chi là gia đình của con người? Ai có thể thoát khỏi được tay Ta? Lẽ nào những người được hưởng phước lành có thể né tránh vì không sẵn lòng sao? Lẽ nào kẻ bị sửa phạt sẽ nhận được sự cảm thông của Ta vì sự sợ hãi của họ sao? Trong tất cả những lời của Ta, con người đã nhìn thấy ý muốn của Ta, nhìn thấy hành động của Ta, nhưng ai có thể thoát khỏi được vướng mắc trong suy nghĩ của chính họ? Ai có thể tìm thấy lối thoát từ bên trong hoặc bên ngoài lờicủa Ta?

2019-12-12

Chương 20

Những của cải của nhà Ta là vô số và không kể xiết, nhưng con người chưa bao giờ tìm đến Ta để hưởng thụ chúng. Con người không thể tự mình hưởng thụ chúng, và cũng không thể tự nỗ lực bảo vệ chính mình; thay vào đó, con người luôn đặt niềm tin vào những người khác. Trong tất cả những người mà Ta để ý, không ai từng trực tiếp và chủ tâm tìm kiếm Ta. Tất cả họ đến trước Ta do sự thúc giục từ những người khác, họ làm theo số đông và không sẵn sàng trả giá hoặc dành thời gian để làm phong phú thêm đời sống của mình. Do đó, đối với loài người, không ai từng sống trong thực tế, và tất cả mọi người đều sống cuộc sống không có ý nghĩa. Do những cách thức và phong tục lâu đời của con người, thân thể của mọi người đầy mùi đất phàm tục. Vì vậy, con người đã trở nên chai sạn, vô cảm trước sự hoang tàn của trần gian, và thay vào đó con người bận rộn với việc tận hưởng bản thân trên thế gian lạnh lẽo này. Cuộc sống của con người không có chút ấm áp nào, và không có bất kỳ dấu vết nào của nhân loại hay ánh sáng - nhưng con người chưa bao giờ quen với điều đó, sống một cuộc đời vô giá trị luôn hối hả mà không đạt được bất cứ điều gì. Trong chớp mắt, ngày chết đến gần, và con người ra đi trong cay đắng. Trên thế gian này, con người chưa bao giờ hoàn thành bất cứ điều gì, hoặc đạt được bất cứ điều gì - con người chỉ vội vàng đến và vội vã rời đi. Trong mắt Ta, không có người nào đã từng mang đi được bất cứ điều gì, hoặc lấy đi được bất cứ điều gì, và vì vậy con người cho rằng thế gian không công bằng. Tuy nhiên, không ai sẵn sàng ra đi nhanh chóng. Họ chỉ chờ đợi ngày lời hứa của Ta từ trời đột nhiên đến giữa con người, cho phép họ trong lúc lầm đường lạc lối một lần nữa nhìn thấy con đường đến sự sống vĩnh cửu. Do đó, con người luôn để ý tới mọi hành động và việc làm của Ta để xem liệu Ta có thực sự giữ lời hứa với họ không. Khi con người rơi vào tình trạng đau khổ hay đau đớn tột cùng, hoặc bị những sự thử thách bủa vây và gần như gục ngã, con người nguyền rủa ngày sinh của mình để sớm thoát khỏi mọi khổ đau và đến một nơi lý tưởng khác. Nhưng khi những thử thách đã qua, con người lại tràn ngập niềm vui. Con người ăn mừng ngày mình sinh ra trên đời và cầu xin Ta ban phước lành cho ngày sinh của họ; lúc này, con người không còn nhắc đến những lời nguyền rủa trước đây, vô cùng lo sợ cái chết sẽ đến với mình. Khi tay Ta nâng đỡ thế gian, con người nhảy múa trong niềm vui sướng, họ không còn buồn phiền nữa, và tất cả họ đều dựa vào Ta. Khi Ta dùng tay che mặt lại, và nhấn con người xuống lòng đất, họ lập tức cảm thấy khó thở và gần như không thể sống sót. Tất cả họ đều than khóc với Ta, sợ hãi rằng Ta sẽ huỷ diệt họ, vì tất cả đều ao ước chứng kiến ngày vinh quang của Ta. Con người lấy ngày vinh quang của Ta làm nguyên tắc cho sự tồn tại của mình, và chỉ vì mong đợi ngày vinh quang của Ta đến mà nhân loại tồn tại cho đến hôm nay. Phước lành mà miệng Ta ban chính là những người được sinh ra trong những ngày sau rốt sẽ đủ may mắn được chứng kiến tất cả sự vinh hiển của Ta.

2019-12-11

Thánh Ca |“Lễ ca của Vương quốc: Vương quốc giáng trần”| Màn đặc sắc 3: Trời và đất mới sau thảm họa


Bản hùng ca vương quốc đầy xúc động đã cất lên, công bố Đức Chúa Trời đến giữa con người cho toàn vũ trụ! Vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến! Muôn dân hân hoan, muôn vật vui mừng! Khắp các tầng trời đều ngập tràn hoan hỉ. Những cảnh tượng hân hoan động lòng người này là gì? Giữa những con người sống trong đau khổ và đã chịu đựng hàng nghìn năm bị Sa-tan làm cho hủ hoại, có ai không mong mỏi – không khao khát – Đức Chúa Trời ? Bao nhiêu tín hữu và người theo Chúa suốt nhiều thời đại, dưới tác hại của Sa-tan, đã chịu đau khổ và hoạn nạn, bắt bớ và xa lánh? Ai lại không hy vọng rằng vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ sớm đến? Đã được nếm trải những niềm vui nỗi buồn của nhân loại, có con người nào không khao khát lẽ thật và sự công chính thống trị giữa nhân loại?

2019-12-10

Chương 19

Bổn phận của con người là coi lời nói của Ta là nền tảng của sự sinh tồn của họ. Con người phải thiết lập một phần riêng cho mình trong từng phần lời của Ta, nếu không sẽ tự chuốc lấy diệt vong, tự làm khó mình. Con người đều không biết Ta, vì vậy, không dùng sinh mệnh của mình để làm vật trao đổi với Ta, chỉ cầm những thứ bỏ đi trong tay mình để phô trương trước mặt Ta, cố gắng làm Ta hài lòng. Nhưng Ta không hài lòng với hiện trạng, Ta luôn đưa ra yêu cầu cho con người. Ta yêu những đóng góp của con người nhưng ghét những đòi hỏi của họ. Trái tim con người đều chứa đầy lòng tham, dường như trái tim con người bị ma quỷ mê hoặc, không thể dứt ra được và dâng hiến trái tim cho Ta. Khi Ta nói, con người đều hết sức chăm chú lắng nghe giọng nói của Ta; nhưng khi Ta ngừng nói, họ lại bắt đầu về “sự quản lý” của mình, hoàn toàn phớt lờ những lời của Ta, dường như lời của Ta là vật phụ thuộc cho “quản lý” của họ. Ta chưa bao giờ thoải mái với con người nhưng kiên nhẫn và khoan dung với họ. Do vậy, bởi sự khoan dung của Ta, con người đều không biết tự lượng sức mình, không tự nhận thức, tự xem xét lại bản thân và họ lợi dụng sự kiên nhẫn của Ta để lừa dối Ta. Không một ai trong số họ thực lòng quan tâm đến Ta, không một ai thực sự coi Ta là đối tượng yêu dấu trong lòng họ, chỉ khi họ rảnh rỗi, họ mới dành chút quan tâm chiếu lệ cho Ta. Những nỗ lực Ta dành cho con người không thể đong đếm được. Ta đã tạo cho con người một loại công việc chưa từng có, ngoài ra, Ta còn cho con người thêm một trọng trách, làm cho con người có chút nhận thức và thay đổi từ tất cả những gì Ta có. Ta không yêu cầu con người trở thành “người tiêu dùng” thuần túy mà khiến con người trở thành “nhà sản xuất” có khả năng đánh bại Sa-tan. Mặc dù Ta không yêu cầu con người làm bất cứ điều gì nhưng Ta có những tiêu chuẩn đối với các yêu cầu mà Ta đưa ra, vì Ta làm việc có mục đích và có nguyên tắc, chứ không bỡn cợt tùy tiện giống như tưởng tượng của con người, cũng không sáng tạo ra trời đất và vạn vật theo tính khí của mình. Trong công việc của Ta, con người phải nhìn thấy điều gì đó, đạt được cái gì đó. Không nên lãng phí “thanh xuân” của mình, không nên coi sinh mệnh của mình như bộ quần áo trên cơ thể để bụi tự bám vào; thay vì thế, họ phải bảo vệ bản thân nghiêm ngặt, lấy sự giàu có của Ta để cúng dường cho mình, cho đến khi không thể quay lại với Sa-tan vì Ta, và tấn công Sa-tan vì Ta. Yêu cầu của Ta đối với con người chẳng phải chỉ đơn giản vậy thôi sao?

2019-12-09

Chương 17

Giọng nói của Ta như tiếng sấm, chiếu sáng bốn phương, chiếu sáng cả trần gian, con người bị gục ngã trong sấm sét. Không có ai đứng vững trong sấm sét, đa phần đều khiếp sợ bởi sự hiện diện của ánh sáng của Ta, và không biết phải làm gì. Khi một tia ánh sáng yếu ớt dần xuất hiện ở phía Đông, rất nhiều người đã bị “cảm động” bởi thứ ánh sáng mong manh này,ngay lập tức bị đánh thức khỏi ảo ảnh. Nhưng không ai nhận ra rằng ngàyánh sáng củaTa giáng trần đã đến. Đa số con người đều chết lặng vì sự xuất hiện đột ngột của ánh sáng, hoặc quan sát động thái của ánh sáng, quan sát hướng đến của ánh sáng bằng đôi mắt hiếu kỳ, hoặc có người sẵn sàng đứng đối diện với ánh sáng, để biết rõ hơn về cội nguồn của ánh sáng. Nhưng cho dù như vậy, có ai đã từng nhận thấy ánh sáng của ngày hôm nay quý giá như thế nào không? Có ai đã từng đánh thức điều kỳ diệu của ánh sáng ngày hôm nay chưa? Phần đông con người không hiểu, bị ánh sáng làm tổn thương đôi mắt, bị ánh sáng đẩy ngã xuống bùn lầy. Có thể nói, trần gian chính là một mớ hỗn độn trong tia sáng mong manh này, tạo nên cảnh tượng bi thảm khó có thể chấp nhận được, nhìn kỹ càng thấy xót xa. Có thể thấy khi ánh sáng đang mạnh, trạng thái của trần gian sẽ không cho phép con người đứng trước mặt Ta. Con người ở dưới sự chiếu rọi của ánh sáng, con người đều đượcsự cứu rỗi của ánh sáng nhưng đồng thời đều chịu những vết thương do ánh sáng gây ra. Có ai không nằm dưới sự giết chóc của ánh sáng? Có ai có thể thoát khỏi sự thiêu đốt của ánh sáng? Ta đã đi khắp vũ trụ, bàn tay Ta gieo hạt giống linh hồn của Ta, để con người trên khắp vũ trụ sẽ “cảm động” vì Ta. Ta ngắm nhìn khắp trần gian từ nơi cao nhất của thiên đàng, quan sát những “hiện tượng kỳ lạ” của các sinh vật trên trần gian: Dường như mặt biển đang phải hứng chịu trận động đất, chim biển bay qua bay lại, tìm cá để ăn. Dưới đáy biển thì hoàn toàn không hề hay biết, trạng thái của mặt biển hoàn toàn không thể đánh thức được sự tỉnh ngộ, vì đáy biển yên tĩnh như trên tầng trời thứ ba, các loài động vật lớn nhỏ chung sống hòa bình, chưa từng xảy ra “khẩu chiến”. Trong số những hiện tượng kỳ lạ, con người khiến Ta khó hài lòng nhất, bởi vì địa vị mà Ta cho con người quá cao, do vậy, tham vọng của con người quá lớn, và trong mắt của con người luôn có một phần “chống đối”. Trong sự sửa dạy của Ta đối với con người, trong sự phán xét của Ta với con người, từngcó nhiều nỗi khổ tâm của Ta dành con con người, nhưng con người không hề mảy may biết được. Ta chưa từng đối xử khắc nghiệt với bất kỳ ai, chỉ trừng phạt thích đáng khi con người nổi loạn, ban cho “sự giúp đỡ” phù hợp khi con người yếu đuối. Nhưng khi con người xa cách Ta và dùngquỷ kế của Sa-tan để phản bội Ta, Ta sẽ hủy diệt loài người ngay lập tức, khiến cho con người không còn có cơ hội “thể hiện khả năng” trước mặt Ta, không thể nghênh ngang vênh váo, cậy thế ức hiếp người khác trên trần gian nữa.