Hiển thị các bài đăng có nhãn tin Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng

2020-07-02

Chúa đã trở lại rồi, chú trọng lắng nghe tiếng nói của Chúa mới có thể nghênh đón được Chúa

Hiện nay, Chúa đã sớm trở thành Con người trở lại rồi, chính là Đức Chúa Trời Toàn Năng Christ trong thời sau rốt, sống trong thế gian đã lâu, nói chuyện làm việc gần ba mươi năm rồi, chính là ứng nghiệm lời của Chúa Giêsu: "Kìa, ta đến như kẻ trộm." (Khải huyền 16 :15 )
"Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ." (Ma-thi-ơ 24:44) có anh chị em sẽ ngạc nhiên: Chúa trở lại rồi? Tại sao tôi không thấy cảnh Chúa ngự từ đám mây xuất hiện chứ? Làm sao chúng ta mới có thể tìm thấy bước chân của Chúa, nghênh đón được Chúa trở lại?
Thực ra, nghênh đón Chúa không dựa vào " mắt thấy" mà là dựa vào "tai nghe" Chúa Giêsu nói:“Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. 13 Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. ”(Giăng 16:12_13)

2020-05-17

Các ngươi hiểu gì về những phúc lành?

Mặc dù những người sinh ra trong thời đại này đã bị Sa-tan và những con quỷ bẩn thỉu làm bại hoại, sự bại hoại đó cũng mang đến cho họ sự cứu rỗi rốt ráo, sự cứu rỗi thậm chí còn to lớn hơn hàng núi và hàng bình nguyên vật nuôi, và sự giàu có dư dật của Gióp, và cũng to lớn hơn phúc lành được nhìn ngắm Đức Giê-hô-va mà Gióp đã nhận lãnh sau những sự thử thách của mình. Chỉ sau khi Gióp đã trải qua thử thách của sự chết, ông mới nghe Đức Giê-hô-va nói và nghe tiếng của Đức Giê-hô-va trong cơn lốc. Dẫu vậy ông đã không nhìn thấy mặt Đức Giê-hô-va, và ông đã không biết tâm tính của Ngài. Điều mà Gióp đạt được đơn thuần là sự giàu có vật chất mang lại những thú vui thể xác và những đứa con xinh đẹp nhất trong tất cả các thành phố xung quanh, cũng như sự bảo vệ của các thiên sứ trên trời. Ông đã không bao giờ nhìn thấy Đức Giê-hô-va, và mặc dù ông được gọi là công chính, ông không bao giờ biết tâm tính của Đức Giê-hô-va. Và mặc dù có thể nói rằng những thú vui vật chất của con người ngày nay là xoàng xĩnh nhất thời, hay môi trường của thế giới bên ngoài mang tính thù địch, Ta tỏ ra tâm tính của Ta, điều mà Ta chưa từng tiết lộ cho con người từ ngàn xưa và là điều luôn bí mật, cũng như những sự mầu nhiệm của các thời đại quá khứ đối với con người, những kẻ thấp hèn nhất nhưng là những kẻ Ta đã ban sự cứu rỗi vĩ đại nhất của Ta. Hơn nữa, đây là lần đầu Ta tiết lộ những điều này; Ta chưa từng làm công việc như thế trước kia. Mặc dù các ngươi thấp kém hơn nhiều so với Gióp, nhưng điều mà các ngươi đã đạt được và điều các ngươi đã trông thấy cho đến hiện tại đều vượt xa ông ta. Mặc dù các ngươi đã chịu đựng đủ loại đau khổ và đã trải nghiệm đủ kiểu giày vò, sự đau khổ ấy hoàn toàn không giống với những sự thử thách của Gióp; thay vào đó, nó là sự phán xét và sự trừng phạt mà con người đã nhận bởi sự phản nghịch của họ, bởi sự chống đối của họ, và bởi tâm tính công chính của Ta; đó là sự phán xét công chính, trừng phạt và rủa sả. Trái lại, Gióp là một người công chính trong số những người Y-sơ-ra-ên đã nhận lãnh tình yêu và sự dịu dàng tuyệt vời của Đức Giê-hô-va. Ông đã không làm điều ác, và ông đã không chống đối Đức Giê-hô-va; thay vào đó, ông đã hết lòng trung thành với Đức Giê-hô-va. Bởi sự công chính của mình, ông đã phải chịu những thử thách, và ông đã trải qua những thử thách dữ dội bởi vì ông là tôi tớ trung thành của Đức Giê-hô-va. Con người ngày nay chịu sự phán xét và rủa sả của Ta bởi sự dơ bẩn và bất chính của họ. Mặc dù sự đau khổ của họ hoàn toàn không giống những gì Gióp đã trải qua khi ông bị mất vật nuôi, đất đai, những người đầy tớ, con cái, và tất cả những người thân cận với ông, điều mà họ phải chịu chính là sự tinh luyện và thiêu đốt dữ dội. Và điều khiến cho việc này còn nghiêm trọng hơn những gì Gióp đã trải qua chính là những sự thử thách đó không được giảm bớt hay loại bỏ vì lí do con người yếu đuối; thay vào đó, chúng kéo dài, và tiếp tục cho đến ngày cuối cùng của sự sống con người. Đây là hình phạt, sự phán xét, và rủa sả; nó là sự thiêu đốt không thương tiếc, và thậm chí hơn thế nữa, nó là “sự kế thừa” công bằng của nhân loại. Đó là điều con người đáng bị, và đó là nơi tâm tính công chính của Ta được bày tỏ. Đây là một sự thật đã được biết đến. Dẫu vậy, những gì con người đã đạt được còn vượt xa sự đau khổ mà họ chịu đựng ngày nay. Sự đau khổ mà các ngươi chịu đựng đơn thuần là một sự thoái trào, gây ra bởi sự xuẩn ngốc của các ngươi, trong khi những gì các ngươi đã đạt được thì lớn gấp trăm lần so với sự đau khổ của các ngươi. Theo luật pháp của Y-sơ-ra-ên trong Cựu Ước, tất cả những kẻ chống lại Ta, tất cả những kẻ công khai phán xét Ta, và tất cả những kẻ không đi theo đường của Ta, mà thay vào đó cả gan dâng những vật tế ô uế lên Ta, chắc chắn sẽ bị hủy diệt bởi lửa trong đền thờ hay bị ném đá đến chết bởi một số người được chọn, và thậm chí con cháu các dòng dõi cùng họ hàng trực tiếp của chính chúng cũng sẽ chịu sự rủa sả của Ta. Ở những đời sau, chúng sẽ không được tự do, mà sẽ bị làm nô lệ cho các nô lệ của Ta, và Ta sẽ đưa chúng đi đày giữa dân ngoại, và chúng sẽ không thể quay trở lại xứ sở của mình. Dựa trên những hành động và hành vi của mình, sự đau khổ mà con người ngày nay chịu đựng không mấy nghiêm trọng như hình phạt mà dân Y-sơ-ra-ên đã chịu. Nói rằng điều mà các ngươi đang chịu là quả báo không phải là không có lý do, bởi vì các ngươi thật sự đã đi quá giới hạn. Nếu các ngươi ở Y-sơ-ra-ên, các ngươi đã phải trở thành những kẻ tội nhân đời đời, và các ngươi sẽ bị dân Y-sơ-ra-ên xẻ ra nhiều mảnh từ lâu và đã bị thiêu đốt bởi lửa từ trời trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. Giờ đây các ngươi đã đạt được gì? Các ngươi đã được nhận gì, và các ngươi đã tận hưởng được gì? Ta đã tiết lộ tâm tính công chính của Ta trong các ngươi, nhưng quan trọng nhất là Ta đã tiết lộ sự kiên nhẫn của Ta để cứu chuộc nhân loại. Một người có thể nói rằng công tác mà Ta đã làm trong các ngươi chỉ là công tác của sự kiên nhẫn; nó được thực hiện vì lợi ích cho sự quản lý của Ta và, hơn nữa, được thực hiện vì lợi ích cho sự hưởng thụ của nhân loại.

2020-05-13

Phim Phúc Âm Tin Lành | GÕ CỬA | Làm thế nào để chào đón sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus?




Đức Chúa Jêsus đã tiên tri rằng: “Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người!” (Ma-thi-ơ 25:6). “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta” (Khải Huyền 3:20). Trong hai ngàn năm qua, các tín hữu tin vào Chúa đã thao thức trông chờ Chúa gõ cửa, vậy Ngài sẽ gõ cửa nhân loại như thế nào khi Ngài trở lại? Dương Ái Quang, nhân vật chính trong phim, đã tin Chúa hàng chục năm và luôn nhiệt tâm trong công tác và rao giảng. Chị đã có những trắc trở trong việc chờ Chúa đến, nhưng cuối cùng, mây mù tan biến và cuối cùng chị hiểu được cách Chúa gõ cửa con người khi Ngài trở lại, và cách chúng ta phải nghinh tiếp Ngài…

2020-05-12

Chỉ bằng cách trải qua những thử thách đau đớn, các ngươi mới có thể biết được sự đáng mến của Đức Chúa Trời

Ngày nay ngươi yêu Đức Chúa Trời nhiều đến đâu? Và ngươi biết về mọi điều Đức Chúa Trời đã thực hiện trong ngươi nhiều đến đâu? Đây là những điều ngươi nên tìm hiểu. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian, mọi điều Ngài đã làm trong con người và đã cho phép con người nhìn thấy là để con người yêu mến Ngài và thực sự biết Ngài. Hầu cho con người đó có thể chịu khổ vì Đức Chúa Trời và đã có thể đi xa đến như vậy, một mặt là nhờ tình yêu của Đức Chúa Trời, và mặt khác là nhờ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời; hơn nữa, chính là nhờ công tác phán xét và trừng phạt mà Đức Chúa Trời đã thực hiện trong con người. Nếu các ngươi không có sự phán xét, sự trừng phạt và những thử thách của Đức Chúa Trời, và nếu Đức Chúa Trời đã không khiến cho các ngươi chịu khổ, thì thành thật mà nói, các ngươi sẽ không thực sự yêu mến Đức Chúa Trời. Công việc của Đức Chúa Trời trong con người càng vĩ đại, và sự đau khổ của con người càng lớn, thì càng có thể cho thấy công việc của Đức Chúa Trời có ý nghĩa ra sao, và lòng của người đó càng có thể thực sự yêu mến Đức Chúa Trời. Làm thế nào để ngươi học được cách yêu mến Đức Chúa Trời? Nếu thiếu sự dằn vặt và tinh luyện, nếu thiếu những thử thách đau đớn - và hơn nữa, nếu tất cả những gì Đức Chúa Trời ban cho con người là ân điển, tình yêu và lòng thương xót - thì liệu ngươi có thể đạt được tình yêu Đức Chúa Trời thực sự không? Một mặt, trong những thử thách của Đức Chúa Trời, con người biết được những thiếu sót của mình, và thấy rằng họ là tầm thường, đáng khinh và thấp hèn, rằng họ chẳng có gì, và chẳng là gì cả; mặt khác, trong những thử thách của Ngài, Đức Chúa Trời tạo ra những môi trường khác nhau cho con người để khiến con người có thể trải nghiệm nhiều hơn về sự đáng mến của Đức Chúa Trời. Mặc dù nỗi đau là rất lớn, và đôi khi không thể vượt qua được - và thậm chí nó còn lên đến mức độ đau buồn tan nát - khi đã trải nghiệm nó, con người thấy được công tác của Đức Chúa Trời trong họ đáng yêu mến ra sao, và chỉ dựa trên nền tảng này mới tạo ra trong con người tình yêu Đức Chúa Trời thực sự. Ngày nay con người nhận thấy rằng chỉ với ân điển, tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, họ không có khả năng thực sự hiểu được chính mình, họ càng không thể biết được bản chất của con người. Chỉ thông qua sự tinh luyện và sự phán xét của Đức Chúa Trời, chỉ trong sự tinh luyện như thế thì con người mới có thể biết được những thiếu sót của họ, và biết rằng họ chẳng có gì. Do đó, tình yêu Đức Chúa Trời của con người được xây dựng trên nền tảng của sự tinh luyện và sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi chỉ tận hưởng ân điển của Đức Chúa Trời, có một cuộc sống gia đình yên bình hoặc những phước lành về vật chất, thì ngươi đã không có được Đức Chúa Trời, và niềm tin của ngươi vào Đức Chúa Trời không thể được coi là thành công. Đức Chúa Trời đã thực hiện một giai đoạn của công tác về ân điển trong xác thịt, và đã ban phước lành về vật chất cho con người - nhưng con người không thể được làm cho hoàn thiện chỉ với ân điển, tình yêu và lòng thương xót mà thôi. Trong những trải nghiệm của con người, họ bắt gặp phần nào tình yêu của Đức Chúa Trời, thấy được tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, nhưng khi đã trải nghiệm một thời gian, họ nhận thấy rằng ân điển của Đức Chúa Trời, tình yêu và lòng thương xót của Ngài không thể làm hoàn thiện con người, và không thể phơi bày điều nào là bại hoại bên trong con người, chúng cũng không thể giúp con người thoát khỏi tâm tính bại hoại của mình, hoặc làm hoàn thiện tình yêu và đức tin của mình. Công tác về ân điển của Đức Chúa Trời là công việc của một giai đoạn, và con người không thể dựa vào việc tận hưởng ân điển của Đức Chúa Trời để biết Đức Chúa Trời.

2020-05-10

Xét về Kinh Thánh (3)


Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều là một bản ghi chép về những lời Đức Chúa Trời đã đích thân phán dạy. Kinh Thánh chỉ đơn giản ghi lại hai giai đoạn trước của công tác Đức Chúa Trời, một phần là bản ghi chép về những lời tiên báo của các tiên tri, còn một phần là những kinh nghiệm và kiến thức được viết bởi những người được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại. Những kinh nghiệm của con người bị vấy bẩn bởi những quan điểm và kiến thức của con người, đó là điều không thể tránh khỏi. Trong nhiều sách của Kinh Thánh có chứa những ý niệm của con người, những thành kiến của con người, và những nhận thức phi lý của con người. Tất nhiên, hầu hết những lời đều là kết quả của sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh, và chúng là những hiểu biết chính xác - nhưng vẫn không thể nói rằng chúng là những sự bày tỏ hoàn toàn chính xác về lẽ thật. Những quan điểm của họ về những điều cụ thể không gì khác hơn là kiến thức từ kinh nghiệm cá nhân, hoặc sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Việc tiên báo của các tiên tri đã được Đức Chúa Trời đích thân chỉ dẫn: Những lời tiên tri tương tự như của Ê-sai, Đa-ni-ên, E-xơ-ra, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên xuất phát từ sự chỉ dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh, những người này là những nhà tiên kiến, họ đã nhận được Thần tiên tri, tất cả họ đều là các tiên tri của Cựu Ước. Trong Thời đại Luật pháp, những người này là những người đã nhận được sự soi dẫn của Đức Giê-hô-va, đã nói nhiều lời tiên tri được Đức Giê-hô-va trực tiếp chỉ dẫn. Và tại sao Đức Giê-hô-va đã làm việc qua họ? Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là dân sự được Chúa chọn, và công tác của các tiên tri phải được thực hiện giữa họ; đó là lí do tại sao các tiên tri có thể nhận được những sự mặc khải như thế. Thực ra, chính họ đã không hiểu những sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho họ. Đức Thánh Linh đã phán những lời đó qua miệng của họ hầu cho những người trong tương lai có thể thấu hiểu được những điều đó, và thấy rằng chúng thực sự là công tác của Thần của Đức Chúa Trời, của Đức Thánh Linh, chứ không đến từ con người, và để ban cho họ sự quả quyết về công tác của Đức Thánh Linh. Trong Thời đại Ân điển, chính Jêsus đã làm tất cả công tác này thay cho họ, và vì vậy mọi người không còn nói tiên tri nữa. Vậy Jêsus có phải là một tiên tri không? Dĩ nhiên, Jêsus là một tiên tri, nhưng Ngài cũng có thể làm công tác của các sứ đồ: Ngài có thể vừa nói tiên tri vừa rao giảng và dạy bảo mọi người trên khắp vùng đất. Tuy nhiên, công tác Ngài đã làm và danh tính mà Ngài đại diện là khác. Ngài đã đến để cứu chuộc toàn nhân loại, để cứu chuộc con người khỏi tội lỗi; Ngài là một tiên tri và là một sứ đồ, nhưng hơn thế nữa, Ngài là Đấng Christ. Một tiên tri có thể nói tiên tri, nhưng không thể nói rằng người là Đấng Christ. Vào lúc đó, Jêsus đã phán nhiều lời tiên tri, và vì vậy có thể nói rằng Ngài là một tiên tri, nhưng không thể nói rằng vì Ngài là một tiên tri nên không phải là Đấng Christ. Đó là bởi vì Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời trong việc thực hiện một giai đoạn công tác, và danh tính của Ngài khác với của Ê-sai: Ngài đã đến để hoàn tất công tác cứu chuộc, Ngài cũng đã cung cấp sự sống cho con người, và Thần của Đức Chúa Trời đã đến với Ngài một cách trực tiếp. Trong công tác Ngài đã làm, không có sự soi dẫn nào từ Thần của Đức Chúa Trời hoặc những chỉ dẫn từ Đức Giê-hô-va. Thay vào đó, Thần đã làm việc trực tiếp - điều đó đủ để chứng tỏ rằng Jêsus không giống như một nhà tiên tri. Công tác Ngài đã làm là công tác cứu chuộc, đứng thứ hai tiếp sau đó mới là việc nói tiên tri. Ngài là một tiên tri, một sứ đồ, và hơn thế nữa Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Trong khi đó, những người tiên báo chỉ có thể nói tiên tri, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời để làm bất kỳ công tác nào khác. Bởi vì Jêsus đã làm nhiều việc mà trước đây chưa từng được con người thực hiện và đã làm công tác cứu chuộc nhân loại, do đó Ngài khác với những người như Ê-sai. Việc một số người không chấp nhận dòng chảy của ngày nay là vì điều này đã tạo ra một trở ngại cho họ. Họ nói: “Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri cũng đã phán nhiều lời - vậy tại sao họ không phải là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt? Đức Chúa Trời của ngày nay phán lời - điều đó có đủ để chứng minh rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể không? Bạn không tôn trọng Kinh Thánh, bạn cũng không nghiên cứu nó - vậy bạn có cơ sở nào để nói rằng Ngài là sự nhập thể của Đức Chúa Trời? Bạn nói rằng họ được Đức Thánh Linh chỉ dẫn, và bạn tin rằng giai đoạn công tác này là công tác do Đức Chúa Trời đích thân thực hiện - nhưng cơ sở của bạn cho điều này là gì? Bạn dồn sự tập trung vào những lời của Đức Chúa Trời ngày nay, trông như thể bạn đã phủ nhận Kinh Thánh, và đặt nó sang một bên”. Và vì vậy họ nói rằng ngươi tin vào tà giáo và dị giáo.

2020-05-07

Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)

Giăng đã làm việc bảy năm cho Jêsus, và đã dọn đường khi Jêsus đến. Trước đó, Phúc Âm về vương quốc thiên đàng do Giăng rao giảng đã được nghe thấy khắp vùng, hầu cho nó lan rộng khắp Giu-đê, và mọi người gọi Giăng là một tiên tri. Vào lúc đó, Vua Hê-rốt muốn giết Giăng, nhưng lại không dám, vì dân chúng rất kính trọng Giăng, và Hê-rốt sợ rằng nếu vua giết Giăng thì họ sẽ nổi dậy chống lại vua. Công tác được Giăng thực hiện đã bén rễ giữa những người bình thường, và người đã tạo nên những tín đồ người Do Thái. Trong bảy năm, người đã dọn đường cho Jêsus, cho đến khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài. Và vì vậy, Giăng là người vĩ đại nhất trong tất cả các tiên tri. Jêsus chỉ bắt đầu công tác chính thức của Ngài sau khi Giăng bị cầm tù. Trước Giăng, chưa từng có một tiên tri nào dọn đường cho Đức Chúa Trời, bởi vì trước Jêsus, Đức Chúa Trời chưa bao giờ trở nên xác thịt trước đó. Và vì vậy, trong số tất cả các tiên tri cho đến Giăng, người là tiên tri duy nhất dọn đường cho Đức Chúa Trời nhập thể, và bằng cách này Giăng đã trở thành tiên tri vĩ đại nhất của Cựu và Tân Ước. Giăng đã bắt đầu rao truyền Phúc Âm của vương quốc thiên đàng bảy năm trước khi Jêsus nhận phép báp-têm. Đối với mọi người, công tác người đã làm dường như vượt trên công tác tiếp sau đó của Jêsus, tuy nhiên, người vẫn chỉ là một tiên tri mà thôi. Người đã làm việc và phán dạy không phải bên trong đền thờ, mà là ở các thị trấn và làng mạc bên ngoài đền thờ. Tất nhiên, người đã làm điều này giữa dân tộc Do Thái, đặc biệt là những người nghèo khổ. Hiếm khi Giăng tiếp xúc với những người từ giới thượng lưu của xã hội, chỉ rao truyền Phúc Âm giữa những người bình thường tại Giu-đê nhằm chuẩn bị những người phù hợp cho Đức Chúa Jêsus, và chuẩn bị những địa điểm thích hợp để Ngài làm việc. Với một tiên tri như Giăng mở đường, Đức Chúa Jêsus đã có thể bắt đầu ngay con đường thập tự giá của Ngài ngay khi Ngài đến. Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, Ngài đã không phải làm công tác chọn người, và không cần phải đích thân tìm người hay địa điểm để làm việc. Ngài đã không làm những việc như thế khi Ngài đến; người thích hợp đã chuẩn bị cho Ngài trước khi Ngài đến. Giăng đã hoàn thành công tác này trước khi Jêsus bắt đầu công tác của Ngài, vì khi Đức Chúa Trời nhập thể đến để thực hiện công tác của mình, Ngài đã bắt tay làm việc ngay trên những người đã chờ đợi Ngài từ lâu. Jêsus đã đến không phải để thực hiện công tác cải chính của con người. Ngài đã đến chỉ để thực hiện chức vụ mà chính Ngài phải thực hiện, và mọi thứ khác đều không liên quan đến Ngài. Khi Giăng đến, người đã không làm gì khác ngoài việc đưa ra khỏi đền thờ và giữa vòng dân Do Thái một nhóm người chấp nhận Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, để họ có thể trở thành những đối tượng cho công tác của Đức Chúa Jêsus. Giăng đã làm việc trong bảy năm, có nghĩa là người đã rao truyền Phúc Âm trong bảy năm. Trong công tác của mình, Giăng đã không thực hiện nhiều phép lạ, vì công tác của người là dọn đường, đó là công tác chuẩn bị. Tất cả những công tác khác, công tác Jêsus sẽ làm, không liên quan đến người; người đã chỉ yêu cầu con người xưng tội của mình và ăn năn, và làm phép báp-têm cho mọi người, hầu cho họ có thể được cứu rỗi. Mặc dù người đã làm công tác mới và đã mở ra một con đường mà con người chưa từng đi trước đó, nhưng người vẫn chỉ dọn đường cho Jêsus mà thôi. Người chỉ đơn thuần là một tiên tri đã làm công tác chuẩn bị, và không có khả năng làm công tác của Jêsus. Mặc dù Jêsus không phải là người đầu tiên rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, và mặc dù Ngài tiếp tục trên con đường mà Giăng đã mở ra, nhưng vẫn không có ai khác có thể làm công tác của Ngài, và nó vượt lên trên công tác của Giăng. Jêsus đã không thể chuẩn bị con đường riêng của Ngài; công tác của Ngài đã được thực hiện trực tiếp nhân danh Đức Chúa Trời. Và vì vậy, cho dù Giăng đã làm việc bao nhiêu năm thì người vẫn là một tiên tri, và vẫn là một người dọn đường. Ba năm công tác do Jêsus thực hiện đã vượt qua bảy năm công tác của Giăng, vì thực chất công tác của Ngài không giống như của Giăng. Khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, đó cũng là lúc công tác của Giăng kết thúc, Giăng đã chuẩn bị đủ người và địa điểm cho Đức Chúa Jêsus sử dụng, và chúng đã đủ cho Đức Chúa Jêsus bắt đầu ba năm công tác. Và vì vậy, ngay khi công tác của Giăng kết thúc, Đức Chúa Jêsus đã chính thức bắt đầu công tác của riêng Ngài, và những lời Giăng đã nói bị gạt sang một bên. Đó là do công tác mà Giăng thực hiện chỉ nhằm mục đích chuyển tiếp, và những lời nói của người không phải là những lời của sự sống sẽ đưa con người đến sự tăng trưởng mới; cuối cùng, những lời nói của người chỉ có ích lợi tạm thời mà thôi.

2020-05-04

Luận bàn về đời sống hội thánh và đời sống thực

Con người ta cảm thấy rằng họ chỉ có thể cải hóa trong đời sống hội thánh, và nếu như họ không sống trong hội thánh thì cải hóa là điều bất khả thi, như thể sự cải hóa là điều bất khả thi trong đời sống thực vậy. Các ngươi có hiểu vấn đề ở đây không? Trước đây Ta đã bàn về việc đưa Đức Chúa Trời vào đời sống thực; đối với những người tin vào Chúa, đây là con đường dẫn đến hiện thực của lời Chúa. Thật vậy, đời sống hội thánh chỉ là một cách hữu hạn để hoàn thiện con người. Môi trường chính yếu để hoàn thiện con người vẫn là đời sống thực. Đây là sự thực hành và rèn luyện thực sự mà Ta đã bàn về, nó cho phép con người đạt được cuộc sống con người đúng nghĩa và sống trọn hình tượng của một con người đích thực trong cuộc sống hàng ngày. Một mặt, người ta phải học hỏi để nâng cao trình độ học vấn của chính mình, để hiểu lời Chúa và đạt tới khả năng tiếp nhận. Mặt khác, họ phải được trang bị kiến thức cơ bản cần có để sống như một con người nhằm có được cái nhìn sâu sắc và lý trí của nhân tính đúng nghĩa, bởi vì con người gần như hoàn toàn thiếu sót trong các lĩnh vực này. Hơn nữa, người ta cũng cần phải bắt đầu nếm trải lời Chúa thông qua đời sống hội thánh và dần dần đi đến hiểu biết rõ ràng về lẽ thật.

2020-04-25

Chương 10

Trong thời gian xây dựng hội thánh, Đức Chúa Trời hầu như không đề cập đến việc xây dựng vương quốc. Ngay cả khi Ngài đưa ra điều đó, Ngài đã nói bằng ngôn ngữ của thời đại. Khi Thời đại Vương quốc đến, Đức Chúa Trời đã vứt bỏ những phương pháp và mối quan tâm nhất định của thời đó về việc xây dựng hội thánh chỉ bằng mộtquyết định duy nhất, và không bao giờ phán lại dù chỉ một từ về chúng nữa. Đây chính xác là ý nghĩa cơ bản của “Chính Đức Chúa Trời”, Đấng luôn luôn mới mẻ và không bao giờ cũ. Cũng như những điều có thể đã được thực hiện trong quá khứ, rốt cuộc, chúng là một phần của thời đại đã qua, do đó, Đức Chúa Trời phân những sự kiện quá khứ như vậy vào loại đã xảy ra trong thời đại trước Đấng Christ, trong khi ngày nay được biết đến là thời đại sau Đấng Christ. Từ đó có thể thấy rằng việc xây dựng hội thánh là điều kiện tiên quyết để xây dựng vương quốc; nó đặt nền móng để Đức Chúa Trời nắm quyền năng tối thượng của Ngài trong vương quốc. Việc xây dựng hội thánh là một miêu tả nhanh của thời nay; Công tác của Đức Chúa Trời trên đất chủ yếu tập trung vào phần này, đó là xây dựng vương quốc. Trước khi hoàn thành việc xây dựng hội thánh, Ngài đã có sự chuẩn bị cho tất cả các công tác phải hoàn thành, và khi thời cơ đến, Ngài chính thức bắt đầu công tác của mình. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Trời phán, “Thời đại Vương quốc xét cho cùng khác với các thời đại đã qua. Nó không liên quan đến việc nhân loại hành động như thế nào; đúng hơn, Ta đã xuống trần gian để đích thân thực hiện công việc của Ta, đó là điều mà con người không thể hình dung cũng như không thể đạt được”. Thật vậy, công tác này phải được thực hiện bởi đích thân Đức Chúa Trời, không con người nào có khả năng làm việc đó; chỉ là họ không thể với tới nó. Ai có thể thực hiện công tác vĩ đại như vậy trong nhân loại ngoài Đức Chúa Trời? Còn ai khác có khả năng “hành hạ” toàn thể nhân loại thừa sống thiếu chết? Liệu con người có thể sắp đặt công tác như vậy không? Tại sao Ngài nói rằng: “Ta đã xuống trần gian để đích thân thực hiện công việc của Ta”? Có lẽ nào Thần của Đức Chúa Trời thực sự biến mất khỏi mọi không gian? Dòng này, “Ta đã xuống trần gian để đích thân thực hiện công việc của Ta” đề cập đến thực tế rằng Thần của Đức Chúa Trời nhập thể vào xác thịt để làm công tác, và cả thực tế rằng Thần của Đức Chúa Trời rõ ràng đang hoạt động thông qua loài người. Bằng cách đích thân thực hiện công tác của mình, Ngài cho phép nhiều người nhìn thấy chính Đức Chúa Trời bằng mắt thường; họ không cần phải tìm kiếm Ngài kỹ càng trong linh hồn của chính mình nữa. Hơn nữa, Ngài cho phép tất cả mọi người tận mắt nhìn thấy hoạt động của Thần, cho họ thấy rằng có một sự khác biệt cơ bản giữa xác thịt của con người và của Đức Chúa Trời. Đồng thời, xuyên khắp không gian, thế giới vũ trụ, Thần của Đức Chúa Trời đang hoạt động. Tất cả dân sự của Đức Chúa Trời, những người đã được khai sáng, đã chấp nhận danh Chúa, thấy Thần của Đức Chúa Trời hoạt động như thế nào và nhờ đó trở nên thậm chí quen thuộc hơn với Đức Chúa Trời nhập thể. Như vậy, chỉ khi thần tính của Đức Chúa Trời hoạt động trực tiếp - nghĩa là chỉ khi Thần của Đức Chúa Trời có thể hoạt động mà không có sự can thiệp nào dù là nhỏ nhất - thì con người mới có thể trở nên quen thuộc với chính Đức Chúa Trời thực tế. Đây là cốt lõi của việc xây dựng vương quốc.
Bao nhiêu lần Đức Chúa Trời đã nhập thể trong xác thịt? Có thể là vài lần chăng? Tại sao Chúa lại phán nhiều lần rằng: “Ta đã từng giáng xuống thế giới của con người, trải nghiệm và quan sát sự đau khổ của họ, nhưng đã làm vậy mà không thành toàn mục đích nhập thể của Ta”? Có phải Đức Chúa Trời đã nhập thể vài lần, nhưng chưa một lần nào được nhân loại biết đến? Đó không phải là ý nghĩa của lời tuyên bố này. Lần đầu tiên Đức Chúa Trời nhập thể, mục đích của Ngài thực sự không phải là để con người biết đến Ngài; đúng hơn, Ngài đã thực hiện công tác của mình và rồi biến mất mà không có bất kỳ ai hay biết hoặc thậm chí còn không có cơ hội để biết Ngài. Ngài đã không cho phép con người biết đầy đủ về mình, Ngài cũng không hoàn toàn có được ý nghĩa của việc nhập thể; như vậy, không thể nói Ngài đã hoàn toàn nhập thể. Trong lần nhập thể đầu tiên, Đức Chúa Trời chỉ đơn thuần sử dụng một thể xác không có bản chất tội lỗi để thực hiện công tác đó; sau khi nó đã hoàn tất thì không cần đề cập thêm nữa. Đối với những con người đã được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại, những trường hợp như vậy càng không đáng được gọi là “sự nhập thể”. Ngày nay, chỉ có Ngài, Đấng là Đức Chúa Trời thực tế, Đấng có hình dáng bên ngoài của con người bình thường che giấu một thần tính toàn vẹn bên trong, và Đấng mà mục đích của Ngài là cho phép loài người biết Ngài, mới có thể được gọi một cách đầy đủ là một “sự nhập thể”. Ý nghĩa chuyến thăm đầu tiên của Đức Chúa Trời đến thế giới này là một khía cạnh trong ý nghĩa của điều được gọi là sự nhập thể ngày nay - nhưng chuyến thăm này không thể nào bao gồm ý nghĩa đầy đủ của những gì hiện được biết đến là sự nhập thể. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Trời nói “không thành toàn mục đích nhập thể của Ta”. Những lời “trải nghiệm và quan sát sự đau khổ của họ” đề cập đến Thần của Đức Chúa Trời và hai sự nhập thể. Vì lý do này, Đức Chúa Trời đã phán: “Khi việc xây dựng vương quốc được triển khai, xác thịt nhập thể của Ta đã chính thức bắt đầu thực hiện chức vụ của Ta; nghĩa là, Vua của vương quốc đã chính thức bắt đầu nắm quyền năng tối cao của Ngài”. Mặc dù việc xây dựng hội thánh là một chứng ngôn cho danh Chúa, nhưng công tác vẫn chưa chính thức bắt đầu; chỉ ngày nay công tác mới có thể được gọi là xây dựng vương quốc. Tất cả những gì đã được thực hiện trước đây chỉ là một sự mường tượng trước; nó không phải việc thật. Mặc dù người ta nói rằng vương quốc đã bắt đầu, nhưng vẫn chưa có công tác nào đang được thực hiện trong đó. Chỉ ngày nay, khi công tác đang được thực hiện trong thần tính của Đức Chúa Trời và Chúa đã chính thức bắt đầu công tác của Ngài, cuối cùng nhân loại mới bước được vào vương quốc. Do đó, “sự giáng xuống của vương quốc vào thế giới loài người - không chỉ đơn thuần là sự thể hiện của lời nói và sự xuất hiện - mà là một phần của hiện thực có thật; đây là một khía cạnh trong ý nghĩa của ‘tính hiện thực của sự thực hành’”. Đoạn trích này là một bản tóm tắt đích xác của lý giải bên trên. Sau khi đưa ra sự mô tả này, Đức Chúa Trời chuyển sang định rõ đặc điểm tình trạng chung của loài người, điều khiến con người rơi vào tình trạng bận rộn liên tục. “Trên khắp thế giới, mọi người đều tồn tại trong lòng thương xót và nhân ái của Ta, nhưng cả nhân loại cũng nằm dưới sự phán xét của Ta, và tương tự cũng phải chịu những sự thử thách của Ta”. Đời sống của con người bị chi phối theo những nguyên tắc và quy luật nhất định, như đã được sắp đặt bởi Đức Chúa Trời, và là như sau: Sẽ có những thời gian hạnh phúc, những lúc thất vọng, và hơn nữa, những lần tinh luyện bằng những khó khăn phải chịu đựng. Như vậy, không ai sẽ sống một cuộc sống thuần hạnh phúc hay thuần khổ đau; mọi cuộc sống sẽ có những thăng trầm. Trong toàn thể nhân loại, không chỉ lòng thương xót và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời là hiển nhiên, mà cả sự phán xét của Ngài cũng như toàn bộ tâm tính của Ngài cũng vậy. Có thể nói rằng tất cả con người đều tồn tại giữa những thử thách của Đức Chúa Trời, phải không? Trên khắp thế giới rộng lớn này, tất cả con người đều bận rộn tìm lối thoát cho chính mình. Họ không chắc mình đóng vai trò gì, và một số thậm chí còn hủy hoại sự sống hoặc mất mạng vì mục đích của số phận. Ngay cả Gióp cũng không ngoại lệ với quy luật này: Mặc dù ông cũng đã chịu đựng những thử thách của Đức Chúa Trời, thế nhưng, ông vẫn tìm kiếm một lối thoát cho chính mình. Không ai từng có thể đứng vững qua các thử thách của Đức Chúa Trời. Do lòng tham và bản chất của con người, không ai hoàn toàn hài lòng với điều kiện hiện tại của mình, và không ai đứng vững qua các thử thách; mọi người đều sụp đổ dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời phải nghiêm túc với loài người, và nếu Ngài vẫn phải giữ những yêu cầu chính xác như vậy với con người, thì sẽ đúng như lời Ngài nói: “Toàn bộ loài người đã khuynh đảo dưới ánh nhìn thiêu đốt của Ta”.
Mặc dù thực tế là việc xây dựng vương quốc đã chính thức bắt đầu, nhưng tiếng tung hô vương quốc vẫn chưa chính thức vang lên; hiện giờ những gì sẽ đến chỉ là một lời tiên tri. Khi tất cả mọi người đã được làm cho trọn vẹn và tất cả các quốc gia trên đất trở thành vương quốc của Đấng Christ, thì đó sẽ là lúc bảy tiếng sấm rền vang. Thời điểm hiện tại là một bước tiến dài hướng đến giai đoạn ấy; năng lượng đã được giải phóng hướng đến ngày đó. Đây là kế hoạch của Đức Chúa Trời, và trong tương lai gần, nó sẽ được thực hiện. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã hoàn thành mọi thứ mà Ngài đã phán. Do đó, rõ ràng các quốc gia trên đất chỉ như những lâu đài trên cát, run rẩy khi ngọn triều dâng đến gần: Ngày sau rốt sắp tới, và con rồng lớn sắc đỏ sẽ gục ngã dưới lời Chúa. Để đảm bảo kế hoạch của Ngài được thực hiện thành công, các thiên sứ trên trời đã xuống trần, làm hết sức mình để thỏa lòng Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời nhập thể đã dàn trận đến chiến trường để tiến hành cuộc chiến chống lại kẻ thù. Bất cứ nơi đâu sự nhập thể xuất hiện là nơi ấy kẻ thù bị đánh bại. Trung Quốc sẽ là nước đầu tiên bị xóa sổ; nó sẽ bị tàn phá bởi bàn tay của Chúa. Đức Chúa Trời sẽ tuyệt đối không nhân nhượng ở đó. Bằng chứng về sự sụp đổ dần dần của con rồng lớn sắc đỏ có thể được thấy trong sự trưởng thành liên tục của con người; điều này là hiển nhiên và hiển hiện với bất cứ ai. Sự trưởng thành của con người là dấu hiệu cho sự chết đi của kẻ thù. Đây là một chút lý giải về ý nghĩa của “chiến đấu với nó”. Do vậy, Đức Chúa Trời đã nhắc nhở con người trong nhiều dịp về việc đưa ra những lời chứng đẹp cho Ngài để đảo ngược tình thế do các quan niệm làm nên trong lòng con người, chính là sự xấu xí của con rồng lớn sắc đỏ. Đức Chúa Trời sử dụng những lời nhắc nhở như vậy để hồi sinh đức tin của con người, và qua việc đó đạt được những thành tựu trong công tác của Ngài. Điều này là bởi Chúa đã phán: “Chính xác con người có khả năng làm được những gì? Chẳng phải là Ta thà tự mình làm điều đó hay sao?”. Hết thảy con người đều như vậy; họ không chỉ không có khả năng mà còn dễ nản lòng và thất vọng. Vì lý do này, họ không thể biết Chúa. Đức Chúa Trời không chỉ hồi sinh đức tin của loài người; Ngài còn bí mật và không ngừng ban cho con người sức mạnh.
Tiếp theo, Chúa bắt đầu phán dạy toàn bộ vũ trụ. Đức Chúa Trời không chỉ bắt đầu công tác mới của Ngài ở Trung Quốc, mà trên khắp vũ trụ, Ngài đã bắt đầu thực hiện công tác mới của ngày hôm nay. Trong giai đoạn này của công tác, bởi vì Đức Chúa Trời muốn mặc khải tất cả những việc làm của Ngài trên khắp thế giới để tất cả những người đã phản bội Ngài sẽ trở lại khấu đầu quy phục trước ngôi Ngài, sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ vẫn chứa đựng lòng thương xót và yêu thương nhân từ của Ngài. Đức Chúa Trời sử dụng các sự kiện hiện tại trên khắp thế giới như là cơ hội để lay động trái tim con người, thúc giục họ tìm kiếm Đức Chúa Trời để họ có thể lội ngược dòng về trước mặt Ngài. Do đó, Chúa nói: “Đây là một trong những cách Ta làm việc và hiển nhiên là một hành động cứu rỗi cho nhân loại, và những gì Ta dành cho họ vẫn là một dạng tình yêu.” Ở đây, Đức Chúa Trời phơi bày bản chất thật của loài người với một mức độ chính xác sâu sắc, vô song và dễ dàng. Điều này khiến con người giấu mặt trong sự xấu hổ, hoàn toàn bẽ mặt. Mỗi khi Đức Chúa Trời lên tiếng, bằng cách nào đó Ngài luôn tìm cách chỉ ra một số khía cạnh thảm hại của loài người để trong lúc thoải mái, con người không quên biết chính mình và không nghĩ rằng biết chính mình là một nhiệm vụ xưa cũ. Theo bản chất con người, nếu Đức Chúa Trời ngừng chỉ ra những lỗi lầm của họ dù chỉ trong một khoảnh khắc, họ có nguy cơ trở nên phóng đãng và kiêu ngạo. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Trời một lần nữa phán ngày nay rằng: “Nhân loại - không hề trân trọng những danh hiệu mà Ta đã trao cho họ, rất nhiều người trong số họ vì danh hiệu ‘kẻ phục vụ’ mà ôm hận trong lòng, và rất nhiều người vì danh hiệu ‘dân sự của Ta’ mà nảy sinh lòng yêu mến Ta. Không ai nên cố lừa gạt Ta; mắt Ta thấy tất cả!” Ngay khi con người đọc lời khẳng định này, họ lập tức cảm thấy khó chịu. Họ cảm thấy những hành động quá khứ của mình còn quá non nớt, chỉ là dạng đối phó bẩn thỉu xúc phạm đến Đức Chúa Trời. Gần đây họ muốn làm hài lòng Chúa, nhưng mặc dù có thừa sự sẵn sàng, họ thiếu năng lực để làm điều đó và không biết mình nên làm gì. Vô tình, họ thấm nhuần một quyết tâm mới. Đây là tác dụng của việc đọc những lời này sau khi một người đã trở nên thoải mái.
Một mặt, Đức Chúa Trời nói Sa-tan cực kỳ điên rồ, trong khi mặt khác, Ngài chỉ ra rằng bản chất cũ mà hầu hết con người ai cũng mang thì chưa thay đổi. Từ đó, rõ ràng các hành động của Sa-tan được thể hiện thông qua loài người. Do đó, Đức Chúa Trời thường xuyên nhắc nhở con người không được phóng đãng, kẻo bị Satan nuốt chửng. Đây không chỉ là lời tiên tri rằng một số người sẽ nổi loạn; hơn nữa, nó còn là hồi chuông cảnh tỉnh vang lên để cảnh báo tất cả mọi người hãy nhanh chóng gác lại quá khứ và tìm kiếm hiện tại. Không ai muốn bị chiếm hữu bởi các quỷ dữ hay bị ma quỷ xâm chiếm, vì vậy những lời của Chúa thậm chí còn hơn một lời cảnh báo và khuyên răn đối với họ. Tuy nhiên, khi hầu hết mọi người chuyển sang thái cực ngược lại, gắn tầm quan trọng to lớn cho từng lời cuối của Đức Chúa Trời, Chúa lại nói: “Hầu hết mọi người đang chờ đợi Ta mặc khải thêm nhiều mầu nhiệm để họ hau háu xem. Tuy nhiên, ngay cả khi ngươi đã bắt đầu hiểu được tất cả những mầu nhiệm của thiên đàng, chính xác thì ngươi có thể làm được gì với sự hiểu biết đó? Nó sẽ làm tăng sự yêu kính của ngươi dành cho Ta sao? Nó sẽ khơi dậy sự yêu kính của ngươi dành cho Ta sao?”. Từ đó, hiển nhiên là con người không sử dụng lời Chúa để biết Chúa và yêu kính Chúa, mà là để tăng nguồn dự trữ cho “little storehouse” của họ. Do đó, Đức Chúa Trời sử dụng cụm từ “họ hau háu xem” để mô tả chủ nghĩa cực đoan của loài người, điều phản ánh tình yêu kính Đức Chúa Trời của con người vẫn chưa hoàn toàn thanh sạch. Nếu Đức Chúa Trời không tiết lộ những lẽ mầu nhiệm, con người sẽ không đặt nhiều tầm quan trọng vào trong lời Ngài, mà liếc qua chúng, thoáng nhìn như thể cưỡi ngựa xem hoa. Họ sẽ không dành thời gian để thực sự suy ngẫm hay nghiền ngẫm những lời phán của Đức Chúa Trời. Hầu hết mọi người không thực sự trân quý lời Ngài. Họ không nỗ lực làm bất cứ điều gì để ăn uống lời Ngài; thay vào đó, họ chỉ lướt qua chúng một cách hời hợt. Tại sao bây giờ Đức Chúa Trời phán theo cách khác với những gì Ngài đã làm trong các thời đại trước? Tại sao tất cả lời Ngài đều thật không thể dò lường? Một số ví dụ như từ “gán nhãn” trong “Ta đã không bao giờ gán nhãn cho họ quá bình thường như vậy”, “vàng nguyên chất” trong “Có ai có thể nhận được vàng nguyên chất nhất đã tạo thành lời Ta không?”, trước đó Ngài đã đề cập “processing” trong “without undergoing any processing by Satan”, và các cụm từ tương tự khác. Con người không hiểu tại sao Đức Chúa Trời nói theo cách này; họ không thể hiểu tại sao Ngài nói theo cách buồn cười, hài hước và khiêu khích như vậy. Chính xác đó là những thể hiện mục đích của lời Chúa. Ngay từ khi mới bắt đầu, con người đã luôn không có khả năng hiểu được lời Chúa, và dường như những lời phán của Ngài thực sự khá nghiêm nghị và hà khắc. Bằng cách thêm vào giọng điệu hài hước nhẹ nhàng nhất - thêm một vài câu châm biếm chỗ này chỗ kia - Ngài có thể làm dịu tâm trạng bằng ngôn từ của mình và cho phép con người thư giãn phần nào. Làm như vậy, Ngài có thể đạt được một hiệu ứng thậm chí còn lớn hơn, buộc mọi người phải suy ngẫm về lời Chúa.
cầu nguyện,lời chúa,

Giới thiệu:

Tin Chúa thế nào mới hợp với tâm ý của Chúa? Đọc lời của Chúa, dẫn bạn hiểu tâm ý và yêu cầu của Chúa.

2020-04-10

Lẽ thật bên trong của công tác chinh phục (1)

Bị Sa-tan làm cho bại hoại hết sức, nhân loại chẳng biết rằng có một Đức Chúa Trời và đã thôi không thờ phượng Đức Chúa Trời. Từ buổi ban đầu, khi A-đam và Ê-va được tạo ra, vinh quang và lời chứng của Đức Giê-hô-va đã từng hiển hiện. Nhưng con người sau khi bị làm cho bại hoại đã đánh mất vinh quang và lời chứng, bởi ai cũng phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời và hoàn toàn không tôn kính Ngài nữa. Công tác chinh phục của ngày nay là khôi phục lại mọi lời chứng và mọi vinh quang, và khiến hết thảy mọi người thờ phượng Đức Chúa Trời, hầu cho lời chứng hiển hiện giữa tạo vật; đây là công tác cần làm trong giai đoạn này. Nhân loại chính xác là được chinh phục ra sao? Bằng cách dùng công tác lời nói của giai đoạn này để hoàn toàn thuyết phục con người; bằng cách dùng sự vạch trần, phán xét, trừng phạt, và rủa sả không thương xót để đưa họ đến sự quy phục hoàn toàn; bằng cách phơi bày sự phản nghịch của con người và phán xét sự chống đối của họ để họ có thể biết được sự bất chính và ô uế của nhân loại, và như thế dùng những điều này như vậy làm nền cho tâm tính công chính của Đức Chúa Trời. Chủ yếu thông qua những lời này mà con người được chinh phục và thuyết phục hoàn toàn. Lời là phương tiện chinh phục sau cuối đối với nhân loại, và tất cả những ai chấp nhận sự chinh phục của Đức Chúa Trời thì phải chấp nhận sự giày vò và phán xét của lời Ngài. Quá trình phán dạy hôm nay là quá trình chinh phục. Và con người chính xác là nên hợp tác như thế nào? Bằng cách biết ăn và uống những lời này và đạt được sự hiểu biết về chúng. Đối với việc con người được chinh phục như thế nào, đây là điều con người không thể tự mình làm được. Thông qua việc ăn và uống những lời này, tất cả những gì ngươi có thể làm là biết được sự bại hoại và ô uế của ngươi, sự phản nghịch và bất chính của ngươi, và phủ phục trước Đức Chúa Trời. Nếu sau khi nắm bắt được ý muốn của Đức Chúa Trời, ngươi có thể đưa vào thực hành, nếu ngươi có được khải tượng và có thể hoàn toàn vâng phục những lời này, và không tự mình đưa ra bất kỳ chọn lựa nào, thì khi đó ngươi cũng đã được chinh phục - và điều đó sẽ như một kết quả của những lời này. Tại sao nhân loại lại đánh mất lời chứng? Bởi chẳng ai có đức tin vào Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Trời không có chỗ trong lòng con người nữa. Sự chinh phục con người là sự khôi phục đức tin của nhân loại. Người ta luôn muốn lao đầu vào thế giới phàm tục, họ ấp ủ quá nhiều hy vọng, mong muốn quá nhiều cho tương lai của họ, và có quá nhiều những đòi hỏi vô độ. Họ luôn nghĩ về xác thịt, lên kế hoach cho xác thịt, và không hứng thú với việc tìm cách tin vào Chúa. Lòng họ đã bị Sa-tan lấy mất, họ đã mất đi sự tôn kính đối với Đức Chúa Trời, và họ gắn chặt với Sa-tan. Nhưng con người được Đức Chúa Trời tạo dựng. Như thế, con người đã đánh mất lời chứng, nghĩa là họ đã đánh mất vinh quang của Đức Chúa Trời. Mục đích của việc chinh phục nhân loại là để giành lại vinh quang trong sự tôn kính của con người dành cho Đức Chúa Trời. Có thể nói theo cách này: Có nhiều người chẳng theo đuổi sự sống; ngay cả khi một số người quả thật theo đuổi sự sống, thì con số đó chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Người ta chỉ bận tâm đến tương lai của họ và chẳng để ý gì đến sự sống. Một số người phản nghịch và chống lại Đức Chúa Trời, phán xét Ngài sau lưng và không thực hành lẽ thật. Những người này bị bỏ qua lúc này; trong khoảnh khắc này, chẳng có gì để làm với các con trai phản nghịch cả, nhưng trong tương lai, ngươi sẽ sống trong sự tối tăm, khóc than và rên xiết. Ngươi không cảm nhận được sự quý giá của sự sáng khi ngươi sống trong nó, nhưng ngươi sẽ nhận ra sự quý giá ấy một khi ngươi sống trong đêm tối, và khi ấy ngươi sẽ hối tiếc. Bây giờ ngươi thấy ổn, nhưng sẽ có ngày ngươi thấy hối tiếc. Khi ngày đó đến, bóng tối buông xuống và sự sáng không còn nữa, thì hối tiếc sẽ là quá muộn màng. Chính vì ngươi vẫn không hiểu về công việc của hôm nay mà ngươi không trân quý thời gian ngươi có bây giờ. Một khi công tác về toàn vũ trụ bắt đầu, nghĩa là khi mọi điều Ta phán hôm nay đã trở thành sự thật, nhiều người sẽ ôm đầu mà khóc than đau đớn. Và khi làm như thế, chẳng phải họ đã rơi vào bóng tối của sự than khóc và rên xiết sao? Hết thảy những ai thực sự theo đuổi sự sống và được làm cho trọn vẹn thì có thể được sử dụng, trong khi tất cả những con trai phản nghịch không phù hợp để được sử dụng sẽ bị rơi vào bóng tối. Họ sẽ bị mất đi công tác của Đức Thánh Linh, và không có khả năng làm cho điều gì có nghĩa. Như thế họ sẽ nức nở khổ sở, bị đưa vào hình phạt. Nếu ngươi được trang bị tốt trong giai đoạn công tác này, và ngươi đã trưởng thành trong đời sống của mình, thì ngươi phù hợp để được sử dụng. Nếu ngươi được trang bị tồi, thì ngay cả khi ngươi được triệu gọi cho giai đoạn công tác tiếp theo, ngươi cũng sẽ không phù hợp để sử dụng - vào lúc này, cho dù ngươi có muốn trang bị cho mình thì cũng không còn cơ hội. Đức Chúa Trời sẽ rời đi; ngươi tìm ở đâu ra cơ hội như cái đang ở trước mặt ngươi bây giờ? Ngươi có thể đi đâu để nhận lãnh sự sự rèn tập mà Đức Chúa Trời đích thân cung cấp? Khi ấy, Đức Chúa Trời sẽ không đích thân phán dạy hay ban tiếng nói của Ngài; tất cả những gì ngươi sẽ có thể làm là đọc những gì được phán dạy hôm nay - như vậy thì làm sao sự hiểu biết đến được dễ dàng? Làm sao cuộc sống trong tương lai có thể tốt hơn cuộc sống hôm nay? Đến lúc đó, chẳng phải ngươi sẽ chịu một sự sống không bằng chết bởi khóc than rên xiết ư? Những ơn phước đang được ban cho ngươi bây giờ mà ngươi nào biết cách thụ hưởng chúng; ngươi đang sống trong phước hạnh mà vẫn không hay biết. Điều này chứng tỏ rằng ngươi phải chịu đau khổ! Hiện tại, một số người chống đối, một số thì dấy loạn, một số làm điều này điều nọ. Ta chỉ đơn giản là bỏ qua ngươi, nhưng đừng nghĩ rằng Ta không hay biết những gì các ngươi đang làm. Ta không hiểu bản chất của các ngươi sao? Tại sao cứ đối chọi lại Ta? Chẳng phải ngươi tin ở Đức Chúa Trời để theo đuổi sự sống và những ơn phước cho lợi ích của ngươi sao? Chẳng phải chính vì lợi ích của ngươi mà ngươi có đức tin hay sao? Trong khoảnh khắc hiện tại, Ta đang thực hiện công tác chinh phục chỉ bằng cách phán, và một khi công tác chinh phục này đến hồi kết thúc, kết cuộc của ngươi sẽ rõ ràng. Ta có phải nói thẳng thừng với ngươi không?

2020-04-08

Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời

chúa,sự sống đời đời,

Trong mắt mọi người, sự quản lý của Đức Chúa Trời là điều gì đó rất không quen thuộc, bởi vì người ta nghĩ đến sự quản lý của Ngài như là điều hoàn toàn xa lạ với họ. Người ta nghĩ rằng việc quản lý của Đức Chúa Trời chỉ là công tác của riêng Ngài, và rằng nó chỉ liên quan đến Ngài - và như thế nhân loại cứ dửng dưng với sự quản lý của Ngài. Theo cách này, sự cứu rỗi nhân loại đã trở nên mơ hồ và không rõ nét, và bây giờ thì chẳng hơn gì lời hùng biện rỗng tuếch. Mặc dù con người theo Chúa nhằm nhận lãnh sự cứu rỗi và bước vào đích đến diệu kỳ, nhưng họ chẳng hề quan tâm đến việc Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài bằng cách nào. Con người chẳng quan tâm đến những gì Chúa đã hoạch định, cũng chẳng quan tâm đến việc họ phải đóng vai trò nào để được cứu. Điều này quả thật là bi kịch. Sự cứu rỗi con người không thể tách rời khỏi sự quản lý của Đức Chúa Trời, cũng chẳng phân ly khỏi kế hoạch của Ngài. Thế mà con người chẳng nghĩ gì đến sự quản lý của Chúa, và như thế càng xa cách với Ngài hơn bao giờ hết. Điều này khiến ngày càng nhiều người hoàn toàn không hay biết về những vấn đề cơ bản liên quan đến câu hỏi về sự cứu rỗi - như là tạo hóa là gì, niềm tin nơi Chúa là gì, thờ phượng Chúa ra sao, vân vân - để gia nhập hàng ngũ những người theo Ngài. Vì thế, bây giờ chúng ta phải bàn bạc về sự quản lý của Đức Chúa Trời, hầu cho mỗi một người trong số người theo Ngài đều hiểu rõ việc theo Ngài và tin ở Ngài nghĩa là gì. Làm như thế sẽ giúp mỗi người lựa chọn được chính xác hơn con đường họ nên đi, hơn là theo Chúa chỉ đơn thuần để nhận lãnh ân phước, hoặc tránh tai họa, hay để được nổi bật giữa những người khác.
Mặc dù sự quản lý của Đức Chúa Trời là sâu nhiệm, nhưng nó không vượt khỏi tầm hiểu biết của con người. Đó là bởi mọi công tác của Đức Chúa Trời điều liên hệ với sự quản lý và công tác cứu rỗi nhân loại của Ngài, và liên quan đến sự sống, đời sống, và đích đến của nhân loại. Công tác mà Đức Chúa Trời thực hiện giữa con người và trên con người có thể nói là rất thực tế và ý nghĩa. Nó có thể được nhìn thấy và cảm nghiệm bởi con người, và không phải điều gì trừu tượng. Nếu con người không có khả năng chấp nhận mọi công tác mà Đức Chúa Trời làm, thì ý nghĩa công tác của Ngài là gì? Và làm thế nào sự quản lý như thế có thể dẫn đến sự cứu rỗi con người được? Nhiều người theo Chúa chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để đạt được ân phước hay ngăn chặn tai ương. Ngay khi công tác và sự quản lý của Đức Chúa Trời được đề cập thì họ lại im lặng và mất đi mọi hứng thú. Họ nghĩ rằng hiểu biết về những vấn đề tẻ nhạt đó sẽ chẳng giúp đời sống của họ tăng trưởng hay cung cấp bất kỳ lợi ích gì. Kết quả là, mặc dù họ đã nghe về sự quản lý của Đức Chúa Trời, họ chẳng lưu ý một chút nào. Họ không xem nó là điều gì đó quý giá để chấp nhận lấy, càng không nhận nó như một phần trong đời sống của họ. Những người như thế chỉ có một mục tiêu đơn giản để theo Chúa, và mục tiêu đó là để nhận lãnh ân phước. Những người như thế chẳng màng chú ý đến bất kỳ thứ gì khác mà không trực tiếp liên quan đến mục tiêu này. Đối với họ, không có mục tiêu nào chính đáng hơn là tin vào Chúa để nhận lãnh ơn phước - đó chính là giá trị đức tin của họ. Nếu điều gì không đóng góp vào mục tiêu này, họ cứ hoàn toàn thờ ơ với nó. Đây là tình hình của hầu hết mọi người tin vào Chúa ngày nay. Mục tiêu và ý định của họ có vẻ chính đáng, bởi vì khi họ tin Chúa, họ cũng dâng mình cho Chúa, dâng hiến cho Chúa, và thi hành bổn phận của mình. Họ hy sinh tuổi trẻ, từ bỏ gia đình và sự nghiệp, và thậm chí còn sống nhiều năm tất bật xa gia đình. Vì mục đích cuối cùng của họ, họ thay đổi niềm hứng thú của riêng mình, quan điểm về cuộc sống của mình, và thậm chí là phương hướng tìm kiếm của mình; thế nhưng họ vẫn không thể thay đổi mục tiêu đức tin của mình vào Chúa. Họ xuôi ngược để quản lý những lý tưởng của chính họ; bất kể con đường có xa xôi, và bất kể bao nhiêu chông gai và trở ngại trên đường, họ vẫn bền bỉ và không sợ hãi cái chết. Sức mạnh nào buộc họ phải tiếp tục dâng hiến bản thân theo cách này? Liệu đó có phải là lương tâm của họ hay không? Liệu đó có phải là khí chất vĩ đại và cao quý của họ hay không? Liệu đó có phải là quyết tâm chiến đấu với các thế lực ma quỷ cho đến tận cùng của họ? Liệu đó có phải đức tin của họ nhằm làm chứng cho Đức Chúa Trời mà không tìm kiếm phần thưởng? Liệu đó có phải lòng trung thành của họ trong việc sẵn sàng từ bỏ mọi thứ để đạt được ý muốn của Đức Chúa Trời? Hay đó là tinh thần cống hiến của họ luôn sẵn lòng từ bỏ những đòi hỏi vô độ của bản thân? Đối với một người chưa từng hiểu công tác quản lý của Đức Chúa Trời mà vẫn cho đi quá nhiều, thì đó hoàn toàn là một phép màu! Bây giờ, hãy thôi bàn thảo về việc những người này đã cho đi bao nhiêu. Tuy nhiên, hành xử của họ rất đáng để chúng ta phân tích. Ngoài những lợi ích trực tiếp liên quan đến họ, liệu có còn các lý do nào khác để những người mà chẳng bao giờ hiểu Chúa lại dâng hiến quá nhiều cho Ngài? Trong việc này, chúng ta phát hiện ra một vấn đề mà trước đây chưa xác định được: Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời chỉ là một thứ tư lợi trần trụi. Đó là mối quan hệ giữa người cho và người nhận những ân phước. Nói rõ hơn là nó giống như mối quan hệ giữa người làm công và người chủ. Người làm công làm việc chỉ để nhận thưởng của người chủ ban cho. Chẳng có tình cảm gì trong một mối quan hệ như thế, chỉ là sự đổi chác. Chẳng có yêu mến hay được yêu mến, chỉ có sự bố thí và thương xót. Chẳng có sự thấu hiểu, chỉ có sự phẫn nộ bị kìm nén và sự lừa dối. Chẳng có sự thân tình, chỉ có một hố sâu ngăn cách không thể vượt qua. Bây giờ mọi thứ đã đến mức này, ai có thể đảo ngược được tình huống như vậy? Và mấy ai có khả năng thực sự hiểu rằng mối quan hệ này đã trở nên đáng sợ như thế nào? Ta tin rằng khi người ta chìm đắm trong niềm vui sướng được ban phước lành, chẳng ai có thể tưởng tượng mối quan hệ như vậy với Chúa lại đáng xấu hổ và khó coi thế nào.
Điều đáng buồn nhất về niềm tin của con người vào Chúa là họ tiến hành việc quản lý của chính họ giữa công tác của Đức Chúa Trời, mà lại chẳng chú ý gì đến sự quản lý của Đức Chúa Trời. Thất bại to lớn nhất của con người nằm ở chỗ làm thế nào mà, đồng thời với việc cố gắng vâng phục Chúa và thờ phượng Ngài, con người cũng đang xây dựng đích đến lý tưởng của riêng mình, và bày mưu làm thế nào để nhận lãnh được ân phước to lớn nhất và đích đến tốt đẹp nhất. Cho dù có người hiểu rằng họ đáng thương, đáng ghét, và thảm hại dường nào, mấy ai có thể sẵn sàng từ bỏ lý tưởng và niềm hy vọng của họ? Và ai có thể dừng bước và thôi không chỉ nghĩ về mỗi bản thân họ? Đức Chúa Trời cần những ai sẽ hợp tác cận kề với Ngài để hoàn tất sự quản lý của Ngài. Ngài cần những ai sẽ vâng phục Ngài bằng cách dâng hiến toàn bộ thân tâm cho công tác quản lý của Ngài. Ngài không cần đến những kẻ hằng ngày chỉ đưa tay cầu xin từ Ngài, càng không cần những kẻ chỉ cho đi một ít mà lại chờ đợi để được ban thưởng. Đức Chúa Trời khinh ghét những kẻ chỉ đóng góp một phần nhỏ mọn, và rồi tự mãn với việc làm của mình. Ngài ghét những kẻ máu lạnh, những kẻ thấy phiền với công tác quản lý của Ngài và chỉ muốn nói về việc lên thiên đàng và nhận lãnh ân phước. Ngài càng ghê tởm hơn với những kẻ lợi dụng cơ hội từ công tác Ngài làm để cứu rỗi nhân loại. Đó là bởi những người này chưa bao giờ quan tâm đến những gì Đức Chúa Trời mong muốn đạt được và thu được thông qua công tác quản lý của Ngài. Họ chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để có thể tận dụng cơ hội do công tác của Đức Chúa Trời mang lại để có được các ân phước. Họ chẳng quan tâm đến tấm lòng của Chúa, mà hoàn toàn bị chiếm cứ bởi những triển vọng và số phận của riêng mình. Những kẻ thấy phiền về công tác quản lý của Đức Chúa Trời và không có chút hứng thú nào với việc Chúa cứu rỗi nhân loại như thế nào và ý muốn của Ngài, những kẻ đó chỉ đang làm những việc thỏa mãn chính mình theo cách tách biệt khỏi công tác quản lý của Đức Chúa Trời. Hành xử của họ không được nhớ đến hay chấp thuận bởi Đức Chúa Trời - càng không được Đức Chúa Trời ưu ái xem xét đến.
Trong sự bao la của vũ trụ và bầu trời, vô số tạo vật sống và sinh sôi, tuân theo quy luật tuần hoàn của sự sống, và gắn liền với một quy luật bất biến. Những tạo vật chết đi mang theo bên mình những câu chuyện về sự sống, còn những kẻ đang sống thì lặp lại lịch sử bi thương của những kẻ đã mất. Và như thế, nhân loại không thể không tự hỏi rằng: Tại sao chúng ta sống? Tại sao chúng ta phải chết đi? Ai điều khiển thế gian này? Và ai đã tạo dựng ra nhân loại này? Liệu nhân loại có thực sự do mẹ thiên nhiên sinh ra không? Liệu con người có thực sự tự điều khiển lấy số phận của họ không? … Đây là những câu hỏi mà nhân loại đã không ngừng hỏi trong hàng ngàn năm. Thật không may, con người càng trở nên ám ảnh với những câu hỏi này, họ càng trở nên khát khao khoa học. Khoa học mang lại sự hài lòng thoáng qua và sự vui thú tạm thời của xác thịt, nhưng không đủ để giải phóng con người khỏi sự đơn độc, cô đơn, sự khiếp sợ khó che giấu, và sự bất lực ẩn sâu trong tâm hồn họ. Nhân loại chỉ dùng những kiến thức khoa học mà họ có thể thấy bằng mắt thường và hiểu bằng trí óc của họ để xoa dịu lòng họ. Tuy vậy, những kiến thức khoa học như thế không đủ để ngăn cản nhân loại khám phá những lẽ mầu nhiệm. Nhân loại chẳng biết ai là Đấng Tối Cao của vạn vật trong vũ trụ, càng không biết về khởi nguyên và tương lai của nhân loại. Nhân loại chỉ đơn thuần sống bất đắc dĩ giữa luật lệ này. Không ai có thể thoát khỏi nó và cũng chẳng ai có thể thay đổi nó, bởi vì giữa vạn vật và trên các từng trời chỉ có một Đấng từ vô thủy vô chung nắm giữ quyền tối cao trên muôn vật. Ngài là Đấng mà nhân loại chưa từng thấy được, là Đấng mà nhân loại chưa từng biết đến, là Đấng mà nhân loại chưa từng tin sự hiện hữu của Ngài - ấy thế mà Ngài lại là Đấng thổi hơi vào tổ tiên của nhân loại và ban sự sống cho nhân loại. Ngài là Đấng chu cấp và nuôi dưỡng nhân loại, cho phép họ tồn tại; và Ngài là Đấng dìu dắt nhân loại cho đến ngày hôm nay. Hơn nữa, Ngài và chỉ Ngài mới là Đấng mà nhân loại dựa vào để sống sót. Ngài nắm quyền tối cao trên muôn vật và trị vì muôn loài sinh vật trong vũ trụ. Ngài điều khiển bốn mùa, và chính Ngài là Đấng gọi gió, sương, mưa, tuyết. Ngài mang lại ánh dương cho nhân loại và dẫn lối trong màn đêm. Chính Ngài đã bày ra trời đất, chu cấp cho con người núi non sông hồ và muôn loài sinh vật trong đó. Những việc Ngài làm hiện diện khắp mọi nơi, quyền năng của Ngài có mặt khắp mọi nơi, sự khôn ngoan của Ngài hiện hữu khắp mọi nơi, và thẩm quyền của Ngài cũng ở khắp mọi nơi. Mỗi một điều trong các luật lệ và phép tắc này đều là hiện thân của việc Ngài làm, và mỗi một điều đều tỏ lộ sự khôn ngoan và thẩm quyền của Ngài. Ai có thể miễn trừ chính mình khỏi quyền tối cao của Ngài? Và ai có thể loại chính mình khỏi những sự sắp đặt của Ngài? Vạn vật đều tồn tại dưới mắt Ngài, và hơn thế, vạn vật đều sống dưới quyền tối cao của Ngài. Những việc Ngài làm và quyền năng của Ngài khiến con người không còn chọn lựa nào khác hơn là phải thừa nhận thực tế rằng Ngài thực sự hiện hữu và nắm quyền tối cao trên vạn vật. Không gì khác ngoài Ngài có thể điều khiển vũ trụ, càng chẳng gì khác có thể chu cấp vô tận cho nhân loại này. Bất kể ngươi có thể nhận ra những việc Ngài làm hay không, và bất kể ngươi có tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời hay không, chắc chắc số phận của ngươi vẫn do Đức Chúa Trời quyết định, và chắc chắc Đức Chúa Trời sẽ luôn nắm giữ quyền tối cao trên vạn vật. Sự hiện hữu và thẩm quyển của Ngài không căn cứ vào việc con người có nhận ra và hiểu được chúng hay không. Chỉ có Ngài mới biết về quá khứ, hiện tại, và tương lai của con người, và chỉ có Ngài mới có thể quyết định số phận của nhân loại. Bất kể ngươi có thể chấp nhận thực tế này hay không, sẽ không lâu nữa để nhân loại tận mắt chứng kiến toàn bộ điều này, và đây là thực tế mà Đức Chúa Trời sẽ sớm làm cho hiện bày. Nhân loại sống và chết dưới mắt của Chúa. Con người sống bởi sự quản lý của Chúa, và khi họ nhắm mắt lần cuối, đó cũng chính là bởi sự quản lý này mà họ nhắm mắt. Con người cứ đến rồi đi hết lần này đến lần khác, đi tới đi lui. Không có ngoại lệ, đó toàn bộ là một phần trong quyền tối cao và sự sắp đặt của Ngài. Sự quản lý của Đức Chúa Trời chưa bao giờ dừng lại; nó mãi luôn tiến triển. Ngài sẽ khiến nhân loại biết được sự hiện hữu của Ngài, tin tưởng vào quyền tối cao của Ngài, thấy được những việc làm của Ngài, và trở về vương quốc của Ngài. Đây là kế hoạch của Ngài, và là công tác mà Ngài đã và đang quản lý trong hàng ngàn năm.
Công tác quản lý của Đức Chúa Trời đã bắt đầu từ lúc sáng thế, và con người là cốt lõi của công tác này. Việc Đức Chúa Trời tạo dựng nên vạn vật có thể nói là vì lợi ích của con người. Bởi vì công tác quản lý của Ngài trải dài trong hàng nghìn năm, và không phải được thực hiện trong khoảng thời gian chỉ tính bằng phút hay giây, hay trong nháy mắt, hay trong một hai năm, mà Ngài đã phải tạo dựng nhiều thứ cần thiết cho sự sống còn của nhân loại, như là mặt trời, mặt trăng, mọi loài sinh vật sống, thức ăn, và một môi trường thân thiện. Đây là khởi đầu trong sự quản lý của Đức Chúa Trời.
Sau đó, Chúa đã giao nhân loại cho Sa-tan, và con người đã sống dưới lãnh thổ của Sa-tan, điều mà dần dà đã dẫn đến công tác của Chúa trong thời đại đầu tiên: câu chuyện của Thời đại Luật pháp… Qua vài ngàn năm suốt Thời đại Luật pháp, nhân loại đã trở nên quen với sự dẫn dắt của Thời đại Luật pháp và xem đó như là điều đương nhiên. Dần dà, con người đã rời bỏ sự coi sóc của Đức Chúa Trời. Và như vậy, trong khi tuân theo luật pháp, họ cũng thờ thần tượng và thực hiện những việc ác. Họ đã không có sự bảo vệ của Đức Giê-hô-va, và chỉ đơn thuần sống cuộc sống của họ trước bàn thờ trong đền. Thực ra, công tác của Chúa đã rời khỏi họ từ lâu, và cho dù dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn vướng mắc trong luật pháp, vẫn gọi danh Đức Giê-hô-va, và thậm chí còn tự hào tin rằng chỉ có họ mới là dân sự của Đức Giê-hô-va, và là dân sự được chọn của Đức Giê-hô-va, nhưng vinh quang của Chúa đã lặng lẽ từ bỏ họ…
Khi Đức Chúa Trời làm công tác của Ngài, Ngài luôn lặng lẽ rời khỏi một nơi và nhẹ nhàng thực hiện công tác mới mà Ngài bắt đầu ở một nơi khác. Điều này có vẻ khó tin với mọi người, những con người bị tê dại. Người ta đã luôn trân quý những điều xưa cũ và nhìn những điều mới lạ bằng ác cảm, hoặc xem chúng như một điều phiền toái. Và như vậy, bất kể công tác mới nào Đức Chúa Trời làm, từ lúc bắt đầu cho đến tận khi kết thúc, con người cũng là loài cuối cùng trong muôn vật biết đến nó.
Như thường lệ, sau công tác của Đức Giê-hô-va trong Thời đại Luật pháp, Đức Chúa Trời đã bắt đầu công tác mới của Ngài ở giai đoạn thứ hai: mặc lấy xác thịt - nhập thể làm người trong mười, hai mươi năm - phán dạy và thực hiện công việc của Ngài giữa các tín đồ. Nhưng cũng không ngoại lệ, chẳng ai biết điều này, và chỉ có một số ít người thừa nhận rằng Ngài là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt sau khi Đức Chúa Jêsus chịu đóng đinh lên thập tự giá và đã phục sinh. Càng khó khăn hơn, bỗng xuất hiện một người tên Phao-lô, người đã đặt mình vào thế thù hằn sống chết với Đức Chúa Trời. Thậm chí sau khi bị đánh gục và trở thành một sứ đồ, Phao-lô đã không thay đổi bản chất cũ của mình, và ông tiếp tục bước trên con đường đối nghịch với Chúa. Trong thời gian ông làm việc, Phao-lô đã viết nhiều bức thư; chẳng may thay, các thế hệ sau thưởng thức những bức thư này như là lời Chúa, và chúng thậm chí đã được đưa vào Tân Ước và bị nhầm lẫn với những lời được Đức Chúa Trời phán ra. Đây đã là một sự sỉ nhục vô cùng kể từ khi Kinh Thánh ra đời! Và chẳng phải sai sót này xảy ra là bởi sự xuẩn ngốc tột độ của con người hay sao? Họ không biết được rằng, trong các bản ghi chép về công tác của Đức Chúa Trời trong Thời đại Ân điển, các bức thư và ghi chép thuộc linh của con người không nên ở đó để là hiện thân cho công tác và lời Chúa. Nhưng đây là ý ngoài lề, do vậy chúng ta hãy cùng quay lại chủ đề ban đầu. Ngay sau khi giai đoạn thứ hai của công tác Đức Chúa Trời được hoàn tất - tức là sau sự đóng đinh trên thập giá - công tác của Chúa nhằmhồi phục con người từ tội lỗi (nghĩa là, giành lại con người từ tay của Sa-tan) đã được hoàn tất. Và như vậy, từ đó trở đi, nhân loại chỉ phải chấp nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế, và những tội lỗi của họ sẽ được tha thứ. Trên danh nghĩa mà nói, thì những tội lỗi của con người không còn là điều cản trở họ đạt được sự cứu rỗi và đến trước Chúa, và không còn là đòn bẩy mà Sa-tan sử dụng để buộc tội con người. Đó là bởi vì chính Đức Chúa Trời đã làm công việc thực tế, đã trở nên hình tượng và nếm trải trước xác thịt tội lỗi, và chính Đức Chúa Trời đã làm của lễ chuộc tội. Bằng cách này, con người đã bước xuống khỏi thập giá, được cứu chuộc và cứu rỗi qua xác thịt của Đức Chúa Trời - hình tượng của xác thịt tội lỗi này. Và như vậy, sau khi đã bị Sa-tan bắt giữ, con người đã tiến một bước gần hơn đến việc chấp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trước Ngài. Dĩ nhiên, giai đoạn này của công tác là sâu nhiệm hơn và phát triển hơn sự quản lý của Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp.
Sự quản lý của Đức Chúa Trời là như thế này: giao nhân loại cho Sa-tan - nhân loại mà chẳng biết Đức Chúa Trời là gì, Đấng Tạo Hóa là gì, thờ phượng Chúa ra sao, hay tại sao cần phải vâng phục Chúa - và để Sa-tan làm cho họ bại hoại. Từng bước một, Đức Chúa Trời sau đó giành lại con người từ tay Sa-tan, cho đến khi con người hoàn toàn thờ phượng Đức Chúa Trời và loại bỏ Sa-tan. Đây là sự quản lý của Đức Chúa Trời. Điều này nghe như một câu chuyện hoang đường, và nó có vẻ khó hiểu. Người ta cảm thấy như đây là một câu chuyện hoang đường bởi vì họ chẳng biết một chút gì về bao nhiêu chuyện đã xảy ra với con người trong vài ngàn năm qua, họ càng không hay biết về bao nhiêu chuyện đã xảy ra trong khoảng không của vũ trụ này. Và hơn thế nữa, đó là bởi họ không thể nhận thức được một thế giới kỳ lạ hơn, đáng sợ hơn đang tồn tại bên ngoài thế giới vật chất, mà với mắt thường họ không thể nhìn thấy được. Con người cảm thấy khó hiểu bởi vì họ không hiểu biết về ý nghĩa sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đối với con người, hay ý nghĩa của công tác quản lý của Ngài, và không hiểu được cuối cùng Đức Chúa Trời mong muốn con người sẽ trở nên như thế nào. Liệu đó có phải là việc hoàn toàn không bị Sa-tan làm cho bại hoại, như A-đam và Êva? Không! Mục đích sự quản lý của Đức Chúa Trời là nhằm thu nhận được một nhóm người thờ phượng Chúa và vâng phục Ngài. Mặc dù những người này đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, họ không còn xem Sa-tan là cha của mình nữa; họ nhận ra bộ mặt gớm guốc của Sa-tan và loại bỏ nó, và họ đến trước Chúa để chấp nhận sự phán xét và trừng phạt của Chúa. Họ bắt đầu biết được điều gì là xấu xa và nó tương phản ra sao với những điều thánh khiết, và nhận ra sự vĩ đại của Chúa và sự tà xác của Sa-tan. Nhân loại như thế này sẽ không còn làm việc cho Sa-tan, hay thờ phượng hoặc sùng kính Sa-tan nữa. Đó là bởi họ là nhóm người đã thực sự được Đức Chúa Trời thu nhận. Đây là ý nghĩa của sự quản lý của Đức Chúa Trời với nhân loại. Trong suốt công tác quản lý của Đức Chúa Trời ở thời này, loài người là đối tượng của cả sự bại hoại của Sa-tan lẫn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và con người là sản phẩm mà Đức Chúa Trời và Sa-tan đang tranh đấu. Khi Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài, Ngài dần dần giành lại con người từ tay Sa-tan, và như thế con người đến gần với Đức Chúa Trời hơn bao giờ hết…
Và rồi đến Thời đại Vương quốc, là một giai đoạn công tác thực tế hơn, nhưng cũng là giai đoạn khó chấp nhận nhất đối với con người. Đó là bởi vì con người càng đến gần Đức Chúa Trời hơn thì gậy của Đức Chúa Trời cũng tiến gần con người hơn, và gương mặt của Chúa càng tỏ hiện rõ hơn với con người. Theo sau sự cứu chuộc nhân loại, con người chính thức trở về gia đình Chúa. Họ nghĩ rằng bây giờ là lúc để thụ hưởng, thế nhưng họ phải hứng trọn một sự tấn công trực diện từ Chúa, điều mà không ai có thể từng thấy trước: Hóa ra, đây là một phép Báp-tem mà dân sự của Chúa phải “hưởng”. Trước sự đối xử như vậy, người ta không thể không khựng lại và tự ngẫm với mình rằng: “Tôi là chiên con bị lạc trong nhiều năm mà Chúa đã tiêu tốn rất nhiều để mua lại, vậy thì tại sao Ngài lại đối xử với tôi như thế này? Liệu đây có phải cách Chúa cười nhạo tôi, và tỏ lộ tôi? …” Sau nhiều năm trôi qua, con người đã trở thành kẻ dày dạn sương gió, đã trải qua gian khổ của sự tinh luyện và trừng phạt. Mặc dù con người đã mất đi sự “vẻ vang” và “lãng mạn” của thời quá khứ, nhưng dù không hề hay biết, họ đã bắt đầu hiểu biết về các nguyên tắc ứng xử của con người, và đã bắt đầu trân quý những năm Đức Chúa Trời đã cống hiến để cứu nhân loại. Con người dần dà bắt đầu ghê tởm sự man rợ của chính mình. Họ bắt đầu căm ghét sự cục súc của họ, hết thảy những hiểu lầm của họ với Chúa, và những đòi hòi vô lý mà họ đã đưa ra cho Ngài. Thời gian không thể quay trở lại. Những sự kiện quá khứ trở thành ký ức đầy nuối tiếc của con người, những lời và tình yêu của Đức Chúa Trời trở thành chủ lực trong cuộc sống mới của con người. Vết thương của con người lành lặn theo từng ngày, sức mạnh của họ trở lại, họ đứng dậy và nhìn vào gương mặt Đấng Toàn Năng… chỉ để nhận ra rằng Ngài vẫn luôn ở bên mình, và rằng nụ cười và dung mạo đẹp đẽ của Ngài vẫn gây xúc động biết bao. Lòng Ngài vẫn còn quan tâm đến nhân loại mà Ngài đã tạo dựng, và đôi tay Ngài vẫn còn ấm áp và mạnh mẽ như buổi ban đầu. Điều đó như thể con người đã trở lại vườn Ê-đen, nhưng lần này không còn nghe những lời dụ dỗ của con rắn, và không còn tránh mặt Đức Giê-hô-va. Con người quỳ phục trước Đức Chúa Trời, ngước nhìn gương mặt tươi cười của Đức Chúa Trời, và dâng của lễ quý giá nhất của mình - Ôi! Lạy Chúa tôi, Đức Chúa Trời tôi!
Tình yêu và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời thấm đẫm mỗi một chi tiết trong công tác quản lý của Ngài, và bất kể người ta có thể hiểu ý định tốt đẹp của Đức Chúa Trời hay không, Ngài vẫn miệt mài làm công tác mà Ngài đã đặt ra để hoàn thành. Bất kể người ta hiểu về sự quản lý của Chúa nhiều bao nhiêu, thì sự trợ giúp và những lợi ích mà công tác của Chúa mang lại cho con người đều có thể được nhận thấy bởi mọi người. Có lẽ ngày hôm nay ngươi chưa cảm nhận được chút gì về tình yêu hay sự sống mà Đức Chúa Trời ban cho, nhưng miễn là ngươi không từ bỏ Chúa, và không từ bỏ quyết tâm của mình để theo đuổi lẽ thật, sẽ có một ngày nụ cười của Chúa sẽ được tỏ lộ cho ngươi. Bởi vì mục tiêu công tác quản lý của Đức Chúa Trời là giành lại những người đang ở dưới lãnh thổ của Sa-tan, chứ không phải từ bỏ những người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại và chống lại Chúa.
Ngày 23 tháng 9, 2005
Nguồn bài viết : PHÚC ÂM VỀ SỰ HIỆN XUỐNG CỦA VƯƠNG QUỐC

2020-04-01

Phim ngắn về Cơ đốc giáo "MONG MỎI" :Ai sẽ được cất lên trước tiên khi Chúa đến?


Phim ngắn về Cơ đốc giáo "MONG MỎI" :Ai sẽ được cất lên trước tiên khi Chúa đến? Nhiều người tin vào Chúa tin rằng miễn là họ hy sinh, dốc trọn bản thân, và làm việc chăm chỉ, chắc chắn họ sẽ nằm trong số những người đầu tiên được cất lên. Nhưng điều này có căn cứ trên lời Chúa không? Đức Chúa Jêsus đã phán: “Song có nhiều kẻ ở đầu sẽ nên rốt, và nhiều kẻ ở rốt sẽ nên đầu” (Ma-thi-ơ 19 :30 ). “Chiên Ta nghe tiếng Ta” (Giăng 10:27). Rõ ràng là việc ai đó được cất lên hay không được xác định bởi việc họ có nghe tiếng Chúa hay không. Những người đầu tiên nghe tiếng Ngài, chấp nhận sự xuất hiện và công tác của Ngài, thì là những trinh nữ khôn ngoan, và họ sẽ được cất lên đầu tiên.

Giới thiệu:
Tin Chúa thế nào mới hợp với tâm ý của Chúa? Đọc lời của Chúa, dẫn bạn hiểu tâm ý và yêu cầu của Chúa.

2020-03-28

Phim ngắn về Cơ đốc giáo "MONG MỎI" :Đâu là nơi mà Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta?



Hai ngàn năm trước, Đức Chúa Jêsus đã hứa, “Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đã đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:2-3). Nhiều người tin rằng Chúa đã trở về trời, nên chắc chắn Ngài đang chuẩn bị cho ta một chỗ trên trời. Hiểu như thế có tương hợp với lời của Chúa không? Lời hứa này chứa đựng lẽ mầu nhiệm nào?

Giới thiệu:

Tin Chúa thế nào mới hợp với tâm ý của Chúa? Đọc lời của Chúa, dẫn bạn hiểu tâm ý và yêu cầu của Chúa.

2020-03-23

Phim ngắn về Cơ đốc giáo :Thiên quốc ở trên trời hay dưới đất?



Nhiều người có đức tin vào Chúa tin rằng thiên quốc ở trên trời. Có thật sự là thế không? Kinh Lạy Cha có câu: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; Ý Cha được nên, ở đất như trời” (Ma-thi-ơ 6:9-10). Sách Khải Huyền có viết: “Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài” (Khải Huyền 11:15). “Thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, ... đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người” (Khải Huyền 21:2-3). Vậy thiên quốc ở trên trời hay dưới đất?

Giới thiệu:
TinChúathế nào mới hợp với tâm ý của Chúa? Đọc lời của Chúa, dẫn bạn hiểu tâm ý và yêu cầu của Chúa.

2020-03-20

Chính Đức Chúa Trời, Đấng duy nhất III

Thẩm quyền của Đức Chúa Trời (II)
tin Chúa,cầu nguyện,
Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Chính Đức Chúa Trời, Đấng duy nhất III″ 
Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục buổi thông công về đề tài “Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất.” Chúng ta đã có hai buổi thông công về chủ đề này, buổi đầu tiên liên quan đến thẩm quyền của Chúa và buổi thứ nhì liên quan đến tâm tính công chính của Chúa. Sau khi đã nghe qua hai buổi thông công này, các ngươi đã có được một sự hiểu biết về bản thể, địa vị, và thực chất của Đức Chúa Trời rồi phải không? Những sự thấu hiểu này đã giúp các ngươi đạt được một kiến thức thực chất hơn và sự chắc chắn về lẽ thật trong sự hiện hữu của Đức Chúa Trời rồi phải không? Hôm nay Ta có kế hoạch mở rộng về đề tài “thẩm quyền của Đức Chúa Trời.”

2020-03-15

Đức Chúa Trời Là Chúa Của Muôn Loài Thọ Tạo

tin Chúa,tình yêu của chúa,

Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Đức Chúa Trời Là Chúa Của Muôn Loài Thọ Tạo″

Một giai đoạn công tác của hai thời đại trước đã diễn ra ở Y-sơ-ra-ên, và một giai đoạn khác diễn ra ở Giu-đa. Nói chung, cả hai giai đoạn này đều không ra khỏi Y-sơ-ra-ên, và mỗi giai đoạn công tác được thực hiện trong những người đầu tiên được chọn. Như thế, dân Y-sơ-ra-ên tin rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chỉ là Chúa của riêng dân Y-sơ-ra-ên. Bởi Jêsus đã làm việc ở Giu-đa, nơi Ngài đã thực hiện việc chịu đóng đinh trên thập tự, người Do Thái coi Ngài là Đấng Cứu Chuộc của dân Do Thái. Họ nghĩ Ngài chỉ là Vua của người Do Thái, chứ không phải dân tộc nào khác; rằng Ngài không phải Chúa đã cứu chuộc người Anh, cũng chẳng phải Chúa đã cứu chuộc người Mỹ, mà là Chúa đã cứu chuộc dân cư Y-sơ-ra-ên; và rằng chính người Do Thái mới là dân được Ngài cứu chuộc tại Y-sơ-ra-ên. Thực ra, Đức Chúa Trời là Đấng chủ tể của vạn vật. Ngài là Đức Chúa Trời của muôn loài thọ tạo. Ngài không chỉ là Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, cũng không phải của dân Do Thái; Ngài là Đức Chúa Trời của muôn loài thọ tạo. Hai giai đoạn công tác trước của Ngài diễn ra ở Y-sơ-ra-ên, điều này đã tạo ra những ý niệm nhất định trong dân chúng. Họ nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã làm công việc của Ngài tại Y-sơ-ra-ên, rằng chính Jêsus đã thực hiện công việc của Ngài ở Giu-đa, và thêm vào đó, Ngài đã trở nên xác thịt để làm công tác - và trong trường hợp nào đi nữa, thì công tác này đã không ra khỏi Y-sơ-ra-ên. Ngài đã không làm việc với người Ai Cập hay người Ấn Độ; Ngài chỉ làm việc với dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy dân chúng hình thành những quan niệm khác nhau, và vạch ra công tác của Đức Chúa Trời trong một phạm vi nhất định. Họ cho rằng khi Đức Chúa Trời làm việc, Ngài phải làm giữa những người được chọn, và tại Y-sơ-ra-ên; dành cho dân Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời không hoạt động trên ai khác, cũng không có bất kỳ quy mô nào vĩ đại hơn cho công tác của Ngài. Họ đặc biệt nghiêm khắc trong việc chỉnh đốn Đức Chúa Trời nhập thể, và không cho phép Ngài ra khỏi phạm vi Y-sơ-ra-ên. Chẳng phải tất cả những điều này đều là những quan niệm của con người sao? Đức Chúa Trời đã tạo ra trời đất và vạn vật, Ngài đã tạo ra muôn loài thọ tạo, vậy thì làm sao Ngài có thể giới hạn công việc Ngài chỉ trong Y-sơ-ra-ên mà thôi? Trong trường hợp đó, Ngài làm ra toàn bộ tạo vật của Ngài để làm gì? Ngài đã tạo ra toàn bộ thế giới, và Ngài đã thực hiện kế hoạch quản lý sáu ngàn năm của Ngài không chỉ ở Y-sơ-ra-ên mà còn cho hết thảy mọi người trong vũ trụ. Bất kể là họ sống ở Trung Quốc, Mỹ, Anh hay Nga, mỗi người đều là con cháu của A-đam; họ đều được tạo ra bởi Đức Chúa Trời. Không một ai trong số họ có thể thoát khỏi những ranh giới của sự tạo dựng, và không một ai trong số họ có thể tách mình khỏi danh hiệu “con cháu A-đam”. Hết thảy họ đều là vật thọ tạo của Đức Chúa Trời, hết thảy họ đều là con cháu A-đam, và hết thảy họ cũng là những con cháu sa ngã của A-đam và Ê-va. Không chỉ có dân Y-sơ-ra-ên mới là tạo vật của Đức Chúa Trời, mà là hết thảy mọi người; chỉ là một số đã bị nguyền rủa, còn một số thì được ban phúc lành. Có nhiều điều dễ chịu về dân Y-sơ-ra-ên; Đức Chúa Trời đã làm việc với họ vào buổi đầu bởi họ ít sa ngã nhất. Người Trung Quốc không thể sánh được với họ; họ thấp hèn hơn nhiều. Vì vậy, Đức Chúa Trời ban đầu đã làm việc giữa dân Y-sơ-ra-ên, và giai đoạn công tác thứ hai của Ngài chỉ được thực hiện ở Giu-đa - điều đã dẫn tới nhiều quan niệm và quy tắc trong con người. Trên thực tế, nếu Đức Chúa Trời hành động theo những quan niệm của con người, Ngài sẽ chỉ là Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, và như thế sẽ không có khả năng mở rộng công việc của Ngài ra các quốc gia dân ngoại, bởi vì Ngài chỉ là Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, và không phải là Đức Chúa Trời của muôn loài thọ tạo. Các tiên tri đã phán rằng danh Đức Giê-hô-va sẽ được khuếch đại ra các quốc gia dân ngoại, rằng danh Ngài sẽ lan truyền đến các quốc gia dân ngoại. Tại sao điều này lại được tiên báo? Nếu Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, thì Ngài chỉ làm việc trong Y-sơ-ra-ên. Hơn nữa, Ngài sẽ không mở rộng công việc này, và Ngài sẽ không đưa ra lời tiên tri như thế. Bởi vì Ngài đã đưa ra lời tiên tri này, Ngài chắc chắn sẽ mở rộng công tác của Ngài giữa các quốc gia dân ngoại, và đến tất cả mọi quốc gia và lãnh thổ. Bởi vì Ngài đã phán như vậy, Ngài phải làm như vậy; đây là kế hoạch của Ngài, bởi Ngài là Chúa đã tạo dựng ra trời đất và vạn vật, và là Đức Chúa Trời của muôn loài thọ tạo. Bất kể Ngài làm việc giữa dân Y-sơ-ra-ên hay ở khắp Giu-đa, công việc của Ngài làm là công việc của toàn vũ trụ, và là công việc của toàn nhân loại. Công việc Ngài làm hôm nay trong quốc gia của con rồng lớn sắc đỏ - trong một quốc gia dân ngoại - vẫn là công việc của toàn nhân loại. Y-sơ-ra-ên có thể là nền tảng cho công việc của Ngài trên đất; tương tự như vậy, Trung Quốc cũng có thể là nền tảng cho công việc của Ngài giữa các quốc gia dân ngoại. Chẳng phải Ngài bây giờ đã làm ứng nghiệm lời tiên tri rằng “danh Đức Giê-hô-va sẽ được khuếch đại giữa các quốc gia dân ngoại” đó sao? Bước đầu tiên trong công tác của Ngài giữa các quốc gia dân ngoại chính là việc này, việc mà Ngài đang làm ở quốc gia của con rồng lớn sắc đỏ. Việc Đức Chúa Trời nhập thể làm việc ở mảnh đất này, và làm việc giữa những người dân bị nguyền rủa này đặc biệt đi ngược lại những quan niệm của con người; đây là những con người thấp hèn nhất trong tất cả, họ chẳng đáng giá gì, và họ bị Đức Giê-hô-va từ bỏ lúc ban đầu. Con người có thể bị người khác ruồng bỏ, nhưng nếu họ bị Đức Chúa Trời ruồng bỏ, thì chẳng ai có địa vị kém cỏi hơn thế, chẳng ai kém giá trị hơn thế. Đối với một tạo vật của Đức Chúa Trời, bị chiếm hữu bởi Sa-tan hay bị người khác ruồng bỏ đều là điều đau đớn - nhưng với một tạo vật bị ruồng bỏ bởi Đức Chúa Trời thì điều này có nghĩa là họ không thể có địa vị nào thấp hơn thế nữa. Con cháu của Mô-áp bị nguyền rủa, và chúng được sinh ra trong đất nước kém phát triển này; chẳng còn nghi ngờ gì, con cháu của Mô-áp có thân phận thấp hèn nhất trong số những người chịu ảnh hưởng của bóng tối. Bởi vì những con người này sở hữu thân phận thấp hèn nhất cho đến nay, những việc được làm trên họ có nhiều khả năng phá vỡ những quan niệm của con người nhất, và cũng là việc có lợi nhất cho toàn bộ kế hoạch quản lý sáu ngàn năm của Đức Chúa Trời. Làm công việc như thế giữa những con người này là cách tốt nhất để phá vỡ các quan niệm của con người; và theo đó Đức Chúa Trời khởi đầu một kỷ nguyên; theo đó Ngài khép lại công việc của toàn bộ Thời đại Ân điển. Công việc đầu tiên của Ngài được triển khai ở Giu-đa; trong phạm vi Y-sơ-ra-ên; giữa các quốc gia dân ngoại, Ngài đã không thực hiện việc khởi đầu bất cứ kỷ nguyên nào cả. Giai đoạn công tác cuối cùng không chỉ được thực hiện giữa các dân ngoại; mà thậm chí còn được thực hiện giữa những con người bị nguyền rủa. Điểm này thôi đã là chứng cứ đắc lực nhất để làm bẽ mặt Sa-tan, và như vậy, Đức Chúa Trời “trở thành” Đức Chúa Trời của muôn loài thọ tạo trong vũ trụ, Chúa của vạn vật, đối tượng được tôn thờ bởi muôn loài có sự sống.