Vì niềm tin vào Đức Chúa Trời, Cơ Đốc nhân người Trung Quốc Zheng Yi và em gái mình đã đối diện với sự ngăn trở và ép buộc dữ dội của bố mình, một trưởng ban tại Mặt trận Thống nhất thành phố - điều này khơi lên cuộc đấu tranh tinh thần đầy căng thẳng trong gia đình họ. Zheng Yi và em gái mình dùng những lời của Đức Chúa Trời để bác lại từng lời dối trá và tin đồn của chính quyền ĐCSTQ, nhưng vì sự tuyệt vọng trong giận dữ, mà bố của họ đã nhẫn tâm đuổi con trai, con gái và vợ của mình ra khỏi nhà nhằm giữ lấy vị trí viên chức của chính mình… Anh trai và em gái kiên quyết chọn theo Đấng Christ, họ tiếp tục loan truyền phúc âm của Đức Chúa Trời.
2020-05-30
2020-05-29
Chỉ những người được hoàn thiện mới có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa
Thực ra, công tác đang được thực hiện hiện nay là để mọi người từ bỏ Sa-tan, từ bỏ tổ tiên cũ của họ. Tất cả những sự phán xét bởi lời đều nhằm vạch trần tâm tính bại hoại của nhân loại và cho phép mọi người hiểu được bản chất của cuộc sống. Tất cả những sự phán xét lặp đi lặp lại này đều xuyên thấu lòng người. Mỗi sự phán xét đều tác động trực tiếp đến số phận của họ và nhằm mục đích làm tổn thương lòng họ để họ có thể buông bỏ tất cả những điều đó và nhờ đó biết về cuộc sống, biết thế giới ô trọc này, cũng biết sự khôn ngoan và toàn năng của Đức Chúa Trời và biết nhân loại bị bại hoại bởi Sa-tan này. Càng chịu sự trừng phạt và phán xét kiểu này, lòng người càng có thể bị tổn thương và tâm thần của họ càng có thể được thức tỉnh. Việc thức tỉnh tâm thần của những người cực kỳ bại hoại và bị lừa dối sâu sắc nhất này là mục tiêu của kiểu phán xét này. Con người không có tâm thần, nghĩa là, tâm thần của người đó đã chết từ lâu và người đó không biết rằng có Thiên đàng, không biết rằng có một Đức Chúa Trời, và chắc chắn không biết rằng mình đang phải vật lộn trong vực thẳm của sự chết; làm sao người đó có thể biết rằng mình đang sống trong địa ngục trần gian xấu xa này? Làm sao người đó có thể biết rằng thi hài mục nát này của mình, thông qua sự bại hoại của Sa-tan, đã sa vào âm phủ của sự chết? Làm sao người đó có thể biết rằng mọi thứ trên đất từ lâu đã bị hủy hoại bởi nhân loại đến mức không thể sửa chữa? Và làm sao người đó biết rằng Đấng Tạo Hóa đã đến trần gian ngày nay và đang tìm kiếm một nhóm người bại hoại mà Ngài có thể cứu được? Thậm chí sau khi con người trải qua mọi sự tinh luyện và phán xét có thể, ý thức u ám của người đó hầu như vẫn không lay động và hầu như không phản ứng. Nhân loại thật quá suy đồi! Mặc dù kiểu phán xét này giống như cơn mưa đá hung tợn từ trên trời rơi xuống, nhưng nó lại có lợi cho con người nhất. Nếu không phán xét mọi người như vậy, thì sẽ không có kết quả và sẽ hoàn toàn không thể cứu được con người ra khỏi vực thẳm của sự khốn khổ. Nếu không có công tác này, sẽ rất khó để mọi người thoát ra khỏi âm phủ vì lòng họ đã chết từ lâu và tâm thần của họ đã bị Sa-tan chà đạp từ lâu. Việc cứu các ngươi, là những người đã chìm xuống những vực thẳm sâu nhất của sự suy đồi, đòi hỏi phải kêu gọi các ngươi một cách vất vả, phán xét các ngươi một cách vất vả, và chỉ sau đó tấm lòng băng giá của các ngươi mới được thức tỉnh.
2020-05-28
Bản chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào
Đức Chúa Trời trong lần nhập thể đầu đã sống trên đất trong ba mươi ba năm rưỡi, và trong những năm đó Ngài thi hành chức vụ của Ngài chỉ trong ba năm rưỡi. Ngài sở hữu một nhân tính bình thường trong suốt thời gian Ngài làm việc và cả trước khi Ngài bắt đầu công tác của Ngài; Ngài sống trong nhân tính bình thường của Ngài trong ba mươi ba năm rưỡi. Trong suốt ba năm rưỡi cuối cùng, Ngài đã tỏ lộ chính Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể. Trước khi Ngài bắt đầu thi hành chức vụ của mình, Ngài xuất hiện với một nhân tính bình thường và bình dị, không tỏ dấu hiệu nào về thần tính của Ngài, và chỉ sau khi Ngài chính thức bắt đầu thi hành chức vụ của mình thì thần tính của Ngài mới được biểu lộ. Cuộc đời và công việc của Ngài trong suốt hai mươi chín năm đầu chứng minh rằng Ngài là một con người thực sự, một Con người, và một thân thể xác thịt, bởi chức vụ của Ngài chỉ chính thức bắt đầu sau tuổi hai mươi chín. “Sự nhập thể” là sự xuất hiện của Chúa trong xác thịt; Chúa làm việc giữa loài người thọ tạo trong hình ảnh của xác thịt. Vì vậy để Đức Chúa Trời nhập thể được, thì trước tiên Ngài phải trở nên xác thịt, một xác thịt với nhân tính bình thường; đây là điều kiện tiên quyết cơ bản nhất. Trên thực tế, sự nhập thể của Chúa có hàm ý rằng Chúa sống và làm việc trong xác thịt, rằng Chúa trong chính bản chất của mình trở nên xác thịt, trở nên một con người. Đời sống và công tác trong xác thịt của Ngài có thể được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là đời sống mà Ngài sống trước khi thi hành chức vụ của mình. Ngài sống trong một gia đình của con người bình thường, trong một nhân tính hoàn toàn bình thường, tuân theo các đạo lý và luật lệ bình thường trong đời sống con người, với những nhu cầu bình thường của con người (thực phẩm, quần áo, sự nghỉ ngơi, nơi cư trú), có những khiếm khuyết và cảm xúc của con người bình thường. Nói cách khác, trong giai đoạn đầu tiên này Ngài sống trong nhân tính hoàn toàn bình thường, không mang thần tính, tham gia vào tất cả những hoạt động bình thường của con người.
Thật sự là, người Y-sơ-ra-ên không bị thất vọng; chúng đã thấy công tác do Đức Chúa Trời thực hiện trong sáu ngàn năm qua, vì Ta đã không bỏ rơi chúng. Đúng hơn là, vì tổ tiên chúng đã ăn trái từ cây biết thiện ác, do ma quỷ trao cho chúng, nên chúng đã ruồng rẫy Ta mà chạy theo tội lỗi. Sự thiện luôn thuộc về Ta, còn sự ác thì thuộc về ma quỷ, kẻ lừa dối Ta vì tội lỗi. Ta không trách con người, cũng không nhẫn tâm tiêu diệt chúng và trừng phạt chúng cách tàn nhẫn, vì sự ác ban đầu không thuộc về nhân loại. Bởi vậy, dù cho dân Y-sơ-ra-ên đã công khai đóng đinh Ta trên thập giá, nhưng mà chúng, những kẻ chờ đợi Đấng Mê-si và Đức Giê-hô-va, và khao khát Đấng Cứu Độ Jêsus, chưa hề quên lời hứa của Ta: Vì Ta đã không ruồng rẫy chúng. Xét cho cùng, Ta đã đổ máu ra làm chứng cho giao ước mà Ta đã thiết lập với nhân loại; sự thật này đã trở thành “huyết ước” ghi khắc trong lòng của những kẻ non nớt và vô tội, như một dấu ấn và đồng phụ thuộc trường cửu như trời và đất. Vì Ta chưa hề gian dối những linh hồn sầu muộn mà Ta đã tiền định, đã chọn lựa và về sau là cứu rỗi và thu phục, cũng là những kẻ đã yêu mến Ta hơn là yêu mến ma quỷ, chúng háo hức dự liệu sự trở lại của Ta và sốt sắng chờ đợi được diện kiến Ta. Vì Ta chưa hề xóa bỏ giao ước mà Ta đã thiết lập với chúng bằng máu, nên chẳng lạ gì khi chúng tha thiết chờ đợi. Ta sẽ đưa về lại những con chiên đã lạc mất suốt nhiều năm, vì Ta đã luôn yêu thương con người, đơn giản là các ác tính đã bị thêm vào sự thiện trong chúng. Ta sẽ thu phục những linh hồn tội nghiệp yêu mến Ta và những kẻ Ta đã yêu mến quá lâu rồi, nhưng làm sao Ta có thể đưa vào nhà Ta những kẻ ác chẳng hề yêu mến Ta và hành xử như kẻ địch thù? Ta sẽ không đưa vào vương quốc của Ta những hậu duệ của ma quỷ và con rắn vốn thù ghét, đối chọi, chống đối, công kích và nguyền rủa Ta, bất chấp giao ước Ta đã thiết lập bằng máu với nhân loại. Ngươi phải biết chính xác mục đích công tác của Ta là gì, và Ta thực hiện nó vì ai. Tình yêu của ngươi chứa đựng sự thiện hay sự ác? Hiểu biết của ngươi về Ta có giống như của Đa-vít và Môi-sê hay là không? Việc phục dịch của ngươi dành cho Ta có giống với việc phục dịch của Áp-ra-ham hay là không? Ngươi thật sự được Ta làm cho hoàn thiện, nhưng ngươi phải biết ngươi sẽ đại diện cho ai, cũng như sẽ chung phần hậu quả với ai. Suốt cuộc đời ngươi, trong cảm nghiệm của ngươi về công tác của Ta, ngươi có thu gặt được thành quả vui sướng và dồi dào không? Có sinh hoa trái và dồi dào không? Ngươi phải suy ngẫm về bản thân mình: Suốt nhiều năm ngươi đã nhọc công vì Ta, nhưng ngươi có từng đạt được gì không? Ngươi có từng được biến đổi hay đạt được gì không? Đổi lại những trải nghiệm gian khổ của ngươi, ngươi đã trở nên như Phi-e-rơ chịu đóng đinh, hay như Phao-lô bị đánh gục và đón nhận ánh sáng lớn lao chưa? Ngươi phải có được chút ý thức về những điều này. Ta không liên tục nói về hay chăm chú vào đời sống ngươi, vốn là thứ nhỏ hơn cả hạt cải và bé như hạt cát.
2020-05-24
Ngươi nên biết toàn thể nhân loại đã phát triển cho đến ngày nay như thế nào
Toàn bộ công tác được thực hiện suốt sáu nghìn năm đã dần thay đổi khi các kỷ nguyên khác nhau đến rồi đi. Những sự chuyển đổi trong công tác này được dựa trên tình hình chung của thế giới và những xu hướng phát triển của nhân loại nói chung; công tác quản lý chỉ dần thay đổi theo đó. Nó không phải đã được lên kế hoạch toàn bộ ngay từ buổi đầu tạo dựng. Trước khi thế giới được tạo dựng, hay không lâu sau đó, Đức Giê-hô-va vẫn chưa lên kế hoạch về giai đoạn đầu của công tác, giai đoạn luật pháp; giai đoạn thứ hai của công tác, giai đoạn ân điển; hay giai đoạn thứ ba của công tác, giai đoạn chinh phục, mà khi đó, Ngài bắt đầu trước tiên với một số con cháu của Mô-áp, và qua đây mà chinh phục toàn thể vũ trụ. Sau khi tạo dựng thế giới, Ngài chưa bao giờ phán những lời này, Ngài cũng chưa bao giờ phán chúng sau Mô-áp; quả thực, trước Lót, Ngài chưa bao giờ phán chúng. Toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời được thực hiện một cách tự phát. Đây chính xác là cách toàn bộ công tác quản lý sáu nghìn năm của Ngài đã phát triển; trước khi tạo dựng thế giới, Ngài chẳng hề viết ra một bản kế hoạch dưới dạng đại loại như “Biểu đồ tóm tắt sự phát triển của nhân loại”. Trong công tác của Đức Chúa Trời, Ngài bày tỏ Ngài là gì một cách trực tiếp; Ngài không vắt óc lập nên một kế hoạch. Dĩ nhiên, khá nhiều nhà tiên tri đã nói rất nhiều lời tiên tri, nhưng vẫn không thể nói rằng công tác của Đức Chúa Trời luôn là công tác của việc hoạch định chính xác; những lời tiên tri ấy được đưa ra theo công tác của Đức Chúa Trời vào thời đó. Toàn bộ công tác mà Ngài thực hiện là công tác thực tế nhất. Ngài thực hiện nó phù hợp với sự phát triển của mỗi kỷ nguyên, và dựa trên cách các sự việc thay đổi. Đối với Ngài, thực hiện công tác cũng giống như kê đơn chữa bệnh; trong khi thực hiện công tác, Ngài quan sát, và tiếp tục công tác theo những quan sát của Ngài. Trong mọi giai đoạn công tác của Ngài, Đức Chúa Trời có khả năng bày tỏ sự khôn ngoan và khả năng dư dật của Ngài; Ngài mặc khải sự khôn ngoan và thẩm quyền có thừa của Ngài tùy theo công tác của bất kỳ thời đại nào, và cho phép tất cả những người mà Ngài mang trở về trong thời đại đó được thấy toàn bộ tâm tính của Ngài. Ngài cung cấp cho các nhu cầu của con người theo công tác cần được thưc hiện ở mỗi thời đại, làm bất cứ công tác gì Ngài nên làm. Ngài chu cấp cho con người những gì họ cần dựa trên mức độ mà Sa-tan đã làm bại hoại họ. Điều này cũng giống như cách mà ban đầu khi Đức Giê-hô-va tạo ra A-đam và Ê-va, Ngài đã làm để cho phép họ biểu thị Đức Chúa Trời trên đất và hầu cho họ có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời giữa sự tạo dựng. Tuy nhiên, Ê-va đã phạm tội sau khi bị con rắn cám dỗ, và A-đam đã làm điều tương tự; trong vườn, cả hai người họ đã ăn trái của cây biết thiện và ác. Vì thế, Đức Giê-hô-va đã có thêm công tác để thực hiện đối với họ. Nhìn thấy sự trần truồng của họ, Ngài che thân họ bằng quần áo làm từ da thú. Sau đó, Ngài phán với A-đam: “Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi… cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi”. Với người nữ, Ngài phán: “Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi”. Từ đó trở đi, Ngài đuổi họ khỏi Vườn Địa Đàng và bắt họ sống ở ngoài, giống như con người hiện đại ngày nay đang sống trên đất. Khi Đức Chúa Trời tạo nên con người ngay từ buổi đầu, kế hoạch của Ngài không phải là để cho con người bị con rắn cám dỗ sau khi được tạo dựng rồi sau đó nguyền rủa con người và con rắn. Ngài thật ra đã không có một kế hoạch như thế; chỉ là cách sự việc tiến triển đã cho Ngài công tác mới để làm giữa sự tạo dựng của Ngài. Sau khi Đức Giê-hô-va đã thực hiện công việc này giữa A-đam và Ê-va trên đất, nhân loại tiếp tục phát triển trong vài nghìn năm, cho đến khi “Ðức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn; thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất, và buồn rầu trong lòng. … Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Ðức Giê-hô-va”. Vào lúc này, Đức Giê-hô-va đã có thêm công tác mới để làm, bởi nhân loại mà Ngài tạo dựng đã trở nên quá tội lỗi sau khi bị con rắn cám dỗ. Xét thấy những hoàn cảnh này, giữa toàn thể nhân loại, Đức Giê-hô-va đã chọn gia đình Nô-ê để được tha, và sau đó Ngài thực hiện công tác của Ngài là hủy diệt thế giới bằng một trận lụt. Nhân loại đã tiếp tục phát triển theo cách này đến tận ngày nay, ngày càng trở nên bại hoại, và đến lúc sự phát triển của nhân loại đạt tới cực điểm, thì điều đó sẽ có nghĩa là sự kết thúc của nhân loại. Từ buổi ban sơ mãi cho đến hồi kết của thế giới, lẽ thật bên trong công tác của Ngài đã, đang và sẽ luôn là con đường này. Cũng giống như cách con người sẽ được phân ra theo loại; hoàn toàn không phải là mỗi một người đều được định trước ngay từ đầu rằng sẽ thuộc về một phân nhóm nhất định; mà đúng hơn, mọi người sẽ dần được phân loại chỉ sau khi trải qua một quá trình phát triển. Cuối cùng, bất kỳ ai không thể được mang đến sự cứu rỗi hoàn toàn sẽ bị trả về cho “tổ tiên” của họ. Không điều gì trong công tác của Đức Chúa Trời giữa nhân loại được chuẩn bị sẵn khi tạo dựng thế giới cả; mà đúng hơn, chính sự phát triển của các sự vật đã để cho Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài giữa nhân loại từng bước một và theo cách hiện thực hơn, thực tế hơn. Ví dụ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã không tạo ra con rắn nhằm cám dỗ người nữ; đó không phải là kế hoạch cụ thể của Ngài, cũng không phải là điều Ngài đã chủ định trước. Người ta có thể nói rằng đây là một biến cố không lường trước. Do vậy, chính bởi vì điều này mà Đức Giê-hô-va đã đuổi A-đam và Ê-va khỏi Vườn Địa Đàng và thề sẽ không bao giờ tạo ra con người một lần nữa. Tuy nhiên, con người chỉ nhận ra sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trên nền tảng này. Cũng như Ta đã nói trước kia: “Ta sử dụng sự khôn ngoan của Ta dựa trên những mưu đồ của Sa-tan”. Cho dù nhân loại đã trở nên bại hoại như thế nào hay con rắn đã cám dỗ họ ra sao, Đức Giê-hô-va vẫn có sự khôn ngoan của Ngài; như thế, Ngài đã đang tiến hành công tác mới kể từ khi Ngài sáng thế, và không bước nào trong công tác này từng bị lặp lại cả. Sa-tan đã liên tục đưa những mưu đồ vào hành động, nhân loại đã liên tục bị Sa-tan làm cho bại hoại, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã không ngừng thực hiện công tác khôn ngoan của Ngài. Ngài không bao giờ thất bại, Ngài cũng không bao giờ ngưng làm việc, kể từ khi thế giới được tạo dựng. Sau khi con người bị Sa-tan làm cho bại hoại, Ngài tiếp tục hoạt động giữa họ để đánh bại hắn, kẻ thù là nguồn gốc cho sự bại hoại của họ. Trận chiến này đã ác liệt kể từ lúc bắt đầu, và sẽ còn tiếp tục cho đến khi tận thế. Khi thực hiện toàn bộ công tác này, Giê-hô-va Đức Chúa Trời không chỉ cho phép con người, những kẻ đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, nhận lãnh sự cứu rỗi vĩ đại của Ngài, mà còn cho phép họ thấy được sự khôn ngoan, toàn năng, và thẩm quyền của Ngài. Hơn nữa, cuối cùng, Ngài sẽ cho họ thấy tâm tính công chính của Ngài - hành phạt kẻ dữ và ban thưởng người lành. Ngài đã chiến đấu với Sa-tan đến tận hôm nay và chưa bao giờ bại trận. Điều này là vì Ngài là một Đức Chúa Trời khôn ngoan, và Ngài sử dụng sự khôn ngoan của Ngài dựa trên những mưu đồ của Sa-tan. Vì lẽ ấy, Đức Chúa Trời không chỉ làm cho mọi sự trên trời quy phục thẩm quyền của Ngài, mà Ngài còn làm cho mọi sự dưới thế được an lòng dưới bệ chân Ngài, và đặc biệt, Ngài làm cho kẻ dữ xâm chiếm và quấy nhiễu nhân loại rơi vào sự trừng phạt của Ngài. Những kết quả của toàn bộ công tác này được mang lại nhờ sự khôn ngoan của Ngài. Ngài chưa bao giờ tỏ lộ sự khôn ngoan của Ngài trước khi nhân loại hiện hữu, bởi Ngài không có kẻ thù trên trời, dưới đất, hay bất kỳ nơi đâu trong toàn vũ trụ, và không có thế lực bóng tối nào xâm chiếm bất cứ thứ gì trong tự nhiên. Sau khi tổng lãnh thiên thần phản bội Ngài, Ngài đã tạo ra nhân loại trên đất, và chính bởi nhân loại mà Ngài chính thức bắt đầu cuộc chiến nghìn năm với Sa-tan, tổng lãnh thiên thần - một cuộc chiến ngày càng nóng hơn theo từng giai đoạn tiếp nối. Sự toàn năng và khôn ngoan của Ngài hiện diện ở từng giai đoạn này. Chỉ khi đó mọi thứ trên trời và dưới thế mới chứng kiến sự khôn ngoan, toàn năng, và đặc biệt là tính hiện thực của Đức Chúa Trời. Ngài vẫn thực hiện công tác của Ngài theo cùng một cách thiết thực này cho đến ngày nay; thêm vào đó, khi Ngài thực hiện công tác của Ngài, Ngài cũng tỏ lộ sự khôn ngoan và toàn năng của Ngài. Ngài cho phép các ngươi nhìn thấy lẽ thật bên trong của từng giai đoạn công tác, thấy chính xác cách giải thích sự toàn năng của Đức Chúa Trời, và, hơn nữa, thấy được sự giải thích rốt ráo về tính hiện thực của Đức Chúa Trời.
Ba Ngôi có tồn tại không?
Sau khi lẽ thật về Jêsus trở nên xác thịt trở thành hiện thực, con người đã tin điều này: Không chỉ Đức Chúa Cha ở trên trời, mà còn có Đức Chúa Con, và thậm chí là Thần. Đây là quan niệm thông thường mà con người nắm giữ, rằng có một Đức Chúa Trời như thế này trên thiên đàng: một Đức Chúa Trời ba ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Tất cả nhân loại đều có những quan niệm này: Chúa là một Đức Chúa Trời, nhưng bao gồm ba phần, điều mà tất cả những kẻ cực kỳ cố chấp trong các quan niệm thông thường cho là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Chỉ khi ba phần đó hợp nhất mới là toàn thể Đức Chúa Trời. Không có Cha Thánh, Đức Chúa Trời sẽ không trọn vẹn. Tương tự, Đức Chúa Trời cũng sẽ không trọn vẹn nếu không có Đức Chúa Con hoặc Đức Thánh Linh. Theo các quan niệm của mình, họ tin rằng một mình Đức Chúa Cha hoặc một mình Đức Chúa Con không thể được xem là Đức Chúa Trời. Chỉ có Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh hợp lại mới có thể được xem là chính Đức Chúa Trời. Giờ đây, mọi tín đồ tôn giáo, và thậm chí mỗi người đi theo trong số các ngươi, đều giữ niềm tin này. Tuy nhiên, về việc liệu niềm tin này có chính xác hay không thì không ai có thể giải thích, vì các ngươi luôn chìm trong màn sương mù về các vấn đề của chính Đức Chúa Trời. Mặc dù đây là những quan niệm, nhưng các ngươi không biết liệu chúng đúng hay sai, vì các ngươi đã bị nhiễm nặng các quan niệm tôn giáo. Các ngươi đã chấp nhận quá sâu sắc những quan niệm thông thường về tôn giáo này, và chất độc này đã thấm quá sâu vào trong các ngươi. Do đó, trong vấn đề này các ngươi cũng đã không chống nổi ảnh hưởng nguy hại này, vì Đức Chúa Trời ba ngôi đơn giản là không tồn tại. Nghĩa là, Ba Ngôi gồm Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh đơn giản là không tồn tại. Đây đều là những quan niệm thông thường của con người, và những niềm tin sai lầm của con người.
2020-05-23
Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về sự phán xét và sửa phạt
Khi bị Đức Chúa Trời sửa phạt, Phi-e-rơ đã cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời! Xác thịt con bất tuân lệnh, và Chúa sửa phạt con, phán xét con. Con vui sướng trong sự sửa phạt và phán xét của Ngài, và thậm chí nếu Ngài không còn muốn con, trong sự phán xét của Ngài, con thấy rõ tâm tính công chính và thánh khiết của Ngài. Con bằng lòng khi Ngài phán xét con, để những kẻ khác có thể nhìn thấy tâm tính công chính trong sự phán xét của Ngài. Con chỉ mong rằng tâm tính công chính của Ngài có thể được thể hiện ra để muôn vật có thể nhìn thấy và con có thể yêu Chúa một cách thuần khiết hơn thông qua sự phán xét của Ngài và có được hình tượng giống một con người công chính. Sự phán xét này của Chúa là tốt đẹp vì đó chính là lòng nhân từ của Ngài. Con biết rằng trong con vẫn còn nhiều sự nổi loạn, và rằng con vẫn chưa xứng đáng để đến trước Chúa. Con ước Ngài thậm chí sẽ phán xét con nhiều hơn dù đó là thông qua nghịch cảnh hay những nỗi cùng cực; cho dù Ngài có làm gì đi chăng nữa thì điều đó vẫn đáng trân quý đối với con. Tình yêu thương của Chúa thật sâu rộng, và con sẵn lòng phó thác bản thân dưới sự định đoạt của Ngài mà không chút kêu than”. Đây là hiểu biết của Phi-e-rơ sau khi ông đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời và đây cũng là lời chứng về tình yêu của Phi-e-rơ dành cho Ngài. Giờ đây, các ngươi đã bị chinh phục - nhưng sự chinh phục đó biểu lộ ở các ngươi như thế nào? Một vài người nói rằng: “Sự chinh phục của tôi là sự nâng đỡ và ân điển tối thượng của Đức Chúa Trời. Chỉ đến bây giờ tôi mới nhận ra rằng cuộc đời con người thật trống rỗng và vô nghĩa. Con người dành trọn cuộc đời sống vội vã, sinh con đẻ cái và nuôi dưỡng thế hệ nối tiếp thế hệ con cháu và cuối cùng cũng chẳng còn lại gì. Giờ đây, chỉ sau khi được Đức Chúa Trời chinh phục, tôi mới thấy rằng sống như thế này chẳng mang lại chút giá trị gì; đó thực sự là một cuộc sống vô nghĩa. Tôi có lẽ nên chết đi và kết thúc mọi thứ!” Những người đã bị chinh phục như vậy liệu có thể được Đức Chúa Trời thu nhận không? Liệu họ có thể trở thành hình mẫu và kiểu mẫu được không? Những người như thế là một bài học về sự thụ động, họ không có khát vọng và không nỗ lực để cải thiện bản than. Mặc dù họ coi bản thân đã bị chinh phục, nhưng những người thụ động như vậy không thể trở nên hoàn thiện. Vào gần cuối đời, sau khi đã được hoàn thiện, Phi-e-rơ nói rằng: “Đức Chúa Trời ôi! Nếu được sống thêm vài năm nữa, con ước mình có thể có được tình yêu sâu đậm hơn và thuần khiết hơn dành cho Ngài”. Khi sắp bị đóng đinh vào thập giá, Phi-e-rơ cầu nguyện trong lòng: “Lạy Đức Chúa Trời! Thời khắc của Ngài đã tới, thời khắc Ngài chuẩn bị cho con đã tới. Con phải bị đóng đinh vì Chúa, con phải làm chứng cho Ngài, và con hi vọng rằng tình yêu của con có thể đáp ứng các yêu cầu của Ngài và rằng tình yêu đó có thể trở nên thuần khiết hơn. Giờ đây, con cảm thấy thoải mái và vững dạ khi có thể chết vì Chúa, và bị đóng đinh lên thập giá vì Ngài, bởi vì chẳng có gì khiến con thỏa lòng hơn là việc có thể bị đóng đinh vì Ngài, đáp ứng những mong mỏi của Ngài, và có thể dâng hiến bản thân, dâng hiến mạng sống của con cho Ngài. Lạy Chúa! Chúa thật đáng mến biết bao! Nếu Ngài cho con được sống, con sẽ càng nguyện yêu mến Ngài. Con sẽ yêu mến Ngài cho đến khi vẫn còn hơi thở. Con ước được yêu mến Chúa sâu đậm hơn. Ngài phán xét con, sửa phạt con, và thử thách con vì con không công chính, vì con đã gây ra tội lỗi. Và con đã hiểu rõ hơn tâm tính công chính của Ngài. Đây là phước lành với con, vì con có thể yêu Chúa sâu đậm hơn, và con nguyện lòng yêu Ngài theo cách này ngay cả khi Ngài không yêu thương con. Con sẵn lòng nhìn ra tâm tính công chính của Chúa, vì điều này khiến con càng có thể theo đuổi một cuộc sống có ý nghĩa. Con thấy rằng cuộc sống của con giờ đây có ý nghĩa hơn, bởi vì con bị đóng đinh vì Chúa, và được chết vì Ngài là một điều ý nghĩa. Nhưng con vẫn không thấy thỏa lòng, vì con biết quá ít về Chúa, con biết rằng con không thể hoàn toàn đáp ứng những mong mỏi của Ngài, và con mới đền đáp được quá ít cho Ngài. Trong đời con, con vẫn chưa thể trọn vẹn quay về bên Chúa; điều đó còn quá xa vời với con. Khi nhìn lại khoảnh khắc này, con thấy mình mắc nợ Ngài quá nhiều, và con chỉ có thời khắc này để bù đắp cho tất cả những sai lầm và tất cả tình yêu mà con chưa đền đáp được cho Ngài”.
2020-05-21
Trailer Phim tài liệu Cơ Đốc | Công tác quản lý của Chúa luôn tiến về phía trước
Trailer Phim tài liệu Cơ Đốc | Công tác quản lý của Chúa luôn tiến về phía trước
Khi tổ tiên của loài người, Adam và Eva, bị Sa-tan làm sa ngã, Chúa bắt đầu quản lý công tác cứu rỗi nhân loại. Kể từ đó, Ngài làm việc không ngừng nghỉ: Ngài ban hành luật pháp để chỉ dẫn loài người, và Ngài đích thân đến giữa con người để bị đóng đinh trên cây thập giá và cứu chuộc loài người, và trong những ngày sau rốt, Ngài tiếp tục công việc của mình, và hoàn thành những lời tiên tri trong Kinh Thánh: “Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ” (Giăng 14:2) .“Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm” (Khải Huyền 22:12).
2020-05-19
Ngươi hiểu gì về Đức Chúa Trời?
Từ lâu con người đã tin vào Đức Chúa Trời, nhưng hầu hết họ lại không hiểu từ “Đức Chúa Trời” có nghĩa gì, và chỉ theo trong hoang mang. Họ chẳng biết chính xác là tại sao con người nên tin vào Đức Chúa Trời, hay Đức Chúa Trời là gì. Nếu con người chỉ biết tin và theo Chúa, nhưng không biết Chúa là gì, và nếu họ cũng chẳng biết đến Chúa, thì đây chẳng phải là một trò đùa vĩ đại hay sao? Mặc dù cho đến nay con người đã chứng kiến nhiều sự mầu nhiệm siêu phàm, và đã nghe được nhiều kiến thức sâu sắc mà trước đây họ chưa từng hiểu thấu, nhưng họ vẫn ngờ nghệch trước nhiều lẽ thật cơ bản nhất mà con người chưa từng suy gẫm trước đây. Vài người có thể nói rằng: “Chúng tôi đã tin Chúa nhiều năm rồi. Làm sao mà chúng tôi không biết Đức Chúa Trời là gì được? Chẳng phải câu hỏi này xem thường chúng tôi hay sao?” Tuy nhiên, trên thực tế thì mặc dù hôm nay con người theo Ta, họ chẳng biết một chút gì về bất cứ công việc nào của ngày nay, và không nắm bắt được những vấn đề thậm chí rõ ràng và đơn giản nhất, huống hồ gì là những thứ rất phức tạp như là vấn đề về Đức Chúa Trời. Nên biết rằng những vấn đề mà ngươi không quan tâm, cũng chưa xác định được, chính là những vấn đề quan trọng nhất ngươi phải hiểu, bởi ngươi chỉ biết đi theo đám đông mà không để ý hay chú tâm gì đến những gì ngươi nên trang bị cho chính mình. Ngươi có thực sự biết tại sao ngươi nên có đức tin nơi Chúa hay không? Ngươi có thực sự biết Đức Chúa Trời là gì không? Ngươi có thực sự biết con người là gì không? Là một người có đức tin nơi Chúa, nếu ngươi không hiểu được những điều này thì chẳng phải ngươi mất đi phẩm giá của một tín đồ của Chúa hay sao? Công việc ngày nay của Ta là thế này: làm cho con người hiểu bản chất của họ, hiểu tất cả những điều Ta làm, và biết được dung mạo thật của Đức Chúa Trời. Đây là hành động kết thúc trong kế hoạch quản lý của Ta, giai đoạn cuối cùng trong công việc của Ta. Đó là lý do vì sao Ta đang bảo trước với các ngươi hết thảy mọi sự mầu nhiệm của cuộc sống, để các ngươi có thể nhận chúng từ Ta. Bởi đây là công việc của thời đại cuối cùng, Ta buộc phải phán bảo đến các ngươi hết thảy mọi lẽ thật của sự sống mà các ngươi chưa từng lĩnh hội trước đây, cho dù các ngươi khó có thể hiểu được hay chấp nhận được chúng đơn giản là do quá kém cỏi và quá thiếu sự trang bị. Ta sẽ khép lại công việc của Ta; Ta sẽ hoàn tất công việc Ta trù định làm, và sẽ bảo cho các ngươi về tất cả những gì Ta đã ủy thác cho các ngươi, kẻo các ngươi một lần nữa lạc lối và sa vào những mưu chước của kẻ dữ khi màn đêm buông xuống. Có nhiều đường lối mà các ngươi không hiểu được, nhiều vấn đề mà các ngươi không biết. Các ngươi thật mê muội; Ta biết quá rõ về vóc giạc cũng như khiếm khuyết của các ngươi. Bởi vậy, mặc dù có nhiều lời các ngươi không thể hiểu được, Ta vẫn sẵn lòng bảo cho các ngươi hết thảy mọi lẽ thật mà các ngươi chưa từng lĩnh hội trước đây, bởi vì Ta cứ lo nghĩ rằng với vóc giạc hiện tại của các ngươi, liệu các ngươi có thể đứng vững để làm chứng cho Ta hay không. Chẳng phải Ta xem thường các ngươi; hết thảy các ngươi đều là những loài thú chưa qua sự huấn luyện bài bản của Ta, và Ta hoàn toàn không thể thấy được bao nhiêu vinh quang ở trong các ngươi. Mặc dù Ta đã tiêu tốn nhiều năng lượng để làm việc trên các ngươi, nhưng các nhân tố tích cực trong các ngươi dường như thực sự chẳng tồn tại, và các nhân tố tiêu cực có thể đếm được trên đầu ngón tay và chỉ dùng làm chứng để làm Sa-tan hổ thẹn. Hầu như mọi điều khác trong các ngươi đều là nọc độc của Sa-tan. Với Ta, các ngươi như trông như thể xa ngoài tầm cứu rỗi. Khi có vấn đề, Ta nhìn vào những biểu hiện và thái độ khác nhau của các ngươi, và cuối cùng, Ta biết được vóc giạc thực sự của các ngươi. Đấy là lý do tại sao Ta luôn lo lắng về các ngươi: Nếu để con người tự sống theo cách của họ thì liệu họ có thực sự tốt đẹp hơn hay được như hôm nay? Liệu vóc giạc trẻ con của các ngươi có làm các ngươi lo lắng? Các ngươi có thể thực sự được như những người được chọn trong dân Y-sơ-ra ên - trung thành với Ta, và chỉ với mình Ta thôi, vào mọi lúc hay không? Những gì biểu lộ nơi các ngươi không phải là sự nghịch ngợm của những đứa trẻ lạc khỏi cha mẹ, mà là sự ghê tởm bùng phát từ những con thú lạc khỏi ngọn roi của chủ chúng. Các ngươi nên biết bản chất của các ngươi, đó cũng là yếu điểm chung của hết thảy các ngươi; đó là chứng bệnh chung của hết thảy các ngươi. Như vậy, lời khuyên duy nhất của Ta cho các ngươi hôm nay là hãy đứng vững để làm chứng cho Ta. Dưới bất kỳ tình huống nào cũng không để chứng bệnh cũ tái phát. Làm chứng là việc quan trọng nhất - đó là tâm điểm trong công việc của Ta. Các ngươi nên chấp nhận lời Ta như Ma-ri đã chấp nhận sự mặc khải của Giê-hô-va đến trong giấc mơ của người: bằng cách tin rồi vâng phục. Chỉ điều này mới được gọi là trong trắng. Bởi các ngươi là những người nghe được lời Ta nhiều nhất, là những người được ban phước nhiều nhất từ Ta. Ta đã ban cho các ngươi toàn bộ của cải giá trị của Ta, Ta đã ban mọi thứ cho các ngươi, vậy mà các ngươi lại có tình trạng khác biệt trời vực với dân Y-sơ-ra-ên; các ngươi và họ chỉ như đến từ những thế giới khác biệt. Nhưng so với họ thì các ngươi đã nhận lãnh nhiều hơn; trong khi họ tuyệt vọng chờ đợi sự xuất hiện của Ta, còn các ngươi thì đang trải qua những ngày tháng vui vẻ với Ta, chia sẻ những tặng phẩm của Ta. Với sự khác biệt như vậy, ai cho các ngươi quyền lớn tiếng và cãi vã với Ta để đòi hỏi phần của các ngươi trong của cải của Ta? Các ngươi chưa nhận được gì nhiều sao? Ta ban cho các ngươi quá nhiều, nhưng những gì các ngươi đáp trả chỉ là nỗi buồn lo đến não lòng, sự bất mãn và oán giận không thể kìm nén được. Các ngươi thật quá đáng ghét - nhưng các ngươi cũng thật đáng thương, bởi vậy Ta chẳng còn lựa chọn nào khác mà phải nuốt hết cơn giận vào trong và bày tỏ sự bất bình đến các ngươi, hết lần này đến lần khác. Qua hàng nghìn năm thực hiện công việc, Ta chưa từng quở trách nhân loại bởi Ta đã khám phá ra rằng, xuyên suốt quá trình phát triển của nhân loại, chỉ có những “trò bịp” giữa các ngươi mới trở nên phổ biến nhất, như là gia sản thừa kế quý giá từ tổ tiên đầy tiếng tăm của các ngươi thời xa xưa để lại. Sao mà Ta ghét những thứ nửa người nửa ngợm ấy đến thế! Các ngươi thật quá thiếu lương tâm! Tính cách các ngươi thật quá thấp kém! Tim các ngươi thật quá sắt đá! Nếu Ta mang những lời và việc làm đó đến cùng dân Y-sơ-ra-ên, thì Ta hẳn đã đạt được vinh quang từ lâu rồi. Nhưng giữa các ngươi thì điều này không thể đạt được; giữa các ngươi chỉ có sự thờ ơ tàn nhẫn, sự quay lưng lạnh lùng, và những lời biện hộ của các ngươi. Các ngươi thật quá vô cảm, và hoàn toàn vô dụng!
2020-05-18
Trong đức tin phải tập trung vào tính hiện thực - Tham gia nghi thức tôn giáo không phải là đức tin
Bao nhiêu thực hành tôn giáo ngươi tuân theo? Bao nhiêu lần ngươi đã nổi loạn chống lại lời Đức Chúa Trời và đi theo con đường của riêng mình? Bao nhiêu lần ngươi đưa lời Đức Chúa Trời vào thực hành vì ngươi thực sự quan tâm đến những trọng trách của Ngài và tìm cách đáp ứng ý muốn của Ngài? Ngươi nên hiểu được lời Đức Chúa Trời và đưa nó vào thực hành cho phù hợp. Hãy nguyên tắc trong mọi hành động và việc làm của mình, dù điều này không có nghĩa là tuân thủ những quy tắc hay miễn cưỡng làm điều gì chỉ để thể hiện; thay vào đó, điều này nghĩa là thực hành lẽ thật và sống theo lời Chúa. Chỉ thực hành như thế này mới làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Bất kỳ lối hành động nào làm hài lòng Đức Chúa Trời thì đều không phải là một quy tắc, mà là thực hành lẽ thật. Một số người rất hay thu hút sự chú ý đến bản thân. Trong sự hiện diện của anh chị em mình, họ có thể nói mình mắc nợ Đức Chúa Trời, nhưng sau lưng, họ không thực hành lẽ thật và hành động hoàn toàn khác. Những người này chẳng phải là những người Pha-ri-si sùng đạo sao? Một người thực sự yêu mến Đức Chúa Trời và sở hữu lẽ thật là một người trung thành với Đức Chúa Trời nhưng không khoe khoang ra bên ngoài như thế. Một người như vậy sẵn sàng thực hành lẽ thật khi những tình huống phát sinh, và không nói hay hành động theo cách đi ngược lại lương tâm họ. Loại người này thể hiện sự khôn ngoan khi những vấn đề phát sinh, và có nguyên tắc trong việc làm của mình bất kể hoàn cảnh nào. Kiểu người này có thể dâng sự phục vụ thật. Có một số người chỉ thường nói lời môi miệng về sự mắc nợ của họ với Đức Chúa Trời; họ thường dành cả ngày cau mày lo lắng, giả vờ tạo dáng và giả vờ đáng thương. Đáng khinh làm sao! Nếu ngươi hỏi họ: “Anh/chị có thể nói tôi nghe anh/chị mắc nợ Đức Chúa Trời như thế nào không?” thì họ sẽ cứng họng. Nếu ngươi trung thành với Đức Chúa Trời, thì đừng đi khắp nơi nói về việc đó; mà thay vào đó, hãy thể hiện sự yêu mến của ngươi dành cho Đức Chúa Trời bằng cách thực hành thực sự, và
cầu nguyện với Ngài bằng một tấm lòng thật. Những kẻ chỉ đối phó với Chúa bằng lời và hời hợt, tất cả đều là những kẻ đạo đức giả! Vài người nói về việc mắc nợ Đức Chúa Trời mỗi khi họ cầu nguyện, và bắt đầu khóc lóc mỗi khi họ cầu nguyện, ngay cả khi không được Đức Thánh Linh cảm thúc. Những người như thế này bị ám ảnh bởi những nghi thức tôn giáo và ý niệm; họ sống theo những nghi thức và ý niệm như vậy, luôn luôn tin rằng những hành động đó làm hài lòng Đức Chúa Trời và rằng Ngài chiếu cố sự ngoan đạo bề ngoài hay những giọt nước mắt buồn đau. Có gì tốt đẹp ở những người ngu ngốc như vậy chứ? Để thể hiện sự khiêm nhường, vài người giả vờ hòa nhã khi nói chuyện trước mặt người khác. Vài người cố tình hạ mình trước mặt người khác, hành xử như những chú cừu không có chút sức mạnh nào. Đây có phải là cung cách thích hợp với dân sự của vương quốc không? Dân sự của vương quốc nên hoạt bát và tự do, chân chất và cởi mở, lương thiện và đáng mến, và sống trong một trạng thái tự do. Họ phải có tính chính trực và phẩm giá và có khả năng đứng ra làm chứng bất cứ nơi đâu họ đến; những người như vậy được yêu mến bởi cả Đức Chúa Trời và con người. Những ai là người mới trong đức tin có quá nhiều sự thực hành bề ngoài; trước tiên họ phải trải qua một giai đoạn được xử lý và bị phá vỡ. Những người có đức tin vào Đức Chúa Trời ở trong sâu thẳm thì không thể phân biệt được với những người khác ở bề ngoài, nhưng những hành động và việc làm của họ thì đáng khen ngợi. Chỉ những người như vậy mới được coi là sống thể hiện ra lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi giảng Phúc Âm mỗi ngày cho những người khác nhau trong nỗ lực đem họ đến sự cứu rỗi, nhưng cuối cùng vẫn đang sống theo các quy tắc và giáo lý, thì ngươi không thể đem lại vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Những người như vậy là những nhân vật tôn giáo, cũng như là những kẻ đạo đức giả.
2020-05-17
Các ngươi hiểu gì về những phúc lành?
Mặc dù những người sinh ra trong thời đại này đã bị Sa-tan và những con quỷ bẩn thỉu làm bại hoại, sự bại hoại đó cũng mang đến cho họ sự cứu rỗi rốt ráo, sự cứu rỗi thậm chí còn to lớn hơn hàng núi và hàng bình nguyên vật nuôi, và sự giàu có dư dật của Gióp, và cũng to lớn hơn phúc lành được nhìn ngắm Đức Giê-hô-va mà Gióp đã nhận lãnh sau những sự thử thách của mình. Chỉ sau khi Gióp đã trải qua thử thách của sự chết, ông mới nghe Đức Giê-hô-va nói và nghe tiếng của Đức Giê-hô-va trong cơn lốc. Dẫu vậy ông đã không nhìn thấy mặt Đức Giê-hô-va, và ông đã không biết tâm tính của Ngài. Điều mà Gióp đạt được đơn thuần là sự giàu có vật chất mang lại những thú vui thể xác và những đứa con xinh đẹp nhất trong tất cả các thành phố xung quanh, cũng như sự bảo vệ của các thiên sứ trên trời. Ông đã không bao giờ nhìn thấy Đức Giê-hô-va, và mặc dù ông được gọi là công chính, ông không bao giờ biết tâm tính của Đức Giê-hô-va. Và mặc dù có thể nói rằng những thú vui vật chất của con người ngày nay là xoàng xĩnh nhất thời, hay môi trường của thế giới bên ngoài mang tính thù địch, Ta tỏ ra tâm tính của Ta, điều mà Ta chưa từng tiết lộ cho con người từ ngàn xưa và là điều luôn bí mật, cũng như những sự mầu nhiệm của các thời đại quá khứ đối với con người, những kẻ thấp hèn nhất nhưng là những kẻ Ta đã ban sự cứu rỗi vĩ đại nhất của Ta. Hơn nữa, đây là lần đầu Ta tiết lộ những điều này; Ta chưa từng làm công việc như thế trước kia. Mặc dù các ngươi thấp kém hơn nhiều so với Gióp, nhưng điều mà các ngươi đã đạt được và điều các ngươi đã trông thấy cho đến hiện tại đều vượt xa ông ta. Mặc dù các ngươi đã chịu đựng đủ loại đau khổ và đã trải nghiệm đủ kiểu giày vò, sự đau khổ ấy hoàn toàn không giống với những sự thử thách của Gióp; thay vào đó, nó là sự phán xét và sự trừng phạt mà con người đã nhận bởi sự phản nghịch của họ, bởi sự chống đối của họ, và bởi tâm tính công chính của Ta; đó là sự phán xét công chính, trừng phạt và rủa sả. Trái lại, Gióp là một người công chính trong số những người Y-sơ-ra-ên đã nhận lãnh tình yêu và sự dịu dàng tuyệt vời của Đức Giê-hô-va. Ông đã không làm điều ác, và ông đã không chống đối Đức Giê-hô-va; thay vào đó, ông đã hết lòng trung thành với Đức Giê-hô-va. Bởi sự công chính của mình, ông đã phải chịu những thử thách, và ông đã trải qua những thử thách dữ dội bởi vì ông là tôi tớ trung thành của Đức Giê-hô-va. Con người ngày nay chịu sự phán xét và rủa sả của Ta bởi sự dơ bẩn và bất chính của họ. Mặc dù sự đau khổ của họ hoàn toàn không giống những gì Gióp đã trải qua khi ông bị mất vật nuôi, đất đai, những người đầy tớ, con cái, và tất cả những người thân cận với ông, điều mà họ phải chịu chính là sự tinh luyện và thiêu đốt dữ dội. Và điều khiến cho việc này còn nghiêm trọng hơn những gì Gióp đã trải qua chính là những sự thử thách đó không được giảm bớt hay loại bỏ vì lí do con người yếu đuối; thay vào đó, chúng kéo dài, và tiếp tục cho đến ngày cuối cùng của sự sống con người. Đây là hình phạt, sự phán xét, và rủa sả; nó là sự thiêu đốt không thương tiếc, và thậm chí hơn thế nữa, nó là “sự kế thừa” công bằng của nhân loại. Đó là điều con người đáng bị, và đó là nơi tâm tính công chính của Ta được bày tỏ. Đây là một sự thật đã được biết đến. Dẫu vậy, những gì con người đã đạt được còn vượt xa sự đau khổ mà họ chịu đựng ngày nay. Sự đau khổ mà các ngươi chịu đựng đơn thuần là một sự thoái trào, gây ra bởi sự xuẩn ngốc của các ngươi, trong khi những gì các ngươi đã đạt được thì lớn gấp trăm lần so với sự đau khổ của các ngươi. Theo luật pháp của Y-sơ-ra-ên trong Cựu Ước, tất cả những kẻ chống lại Ta, tất cả những kẻ công khai phán xét Ta, và tất cả những kẻ không đi theo đường của Ta, mà thay vào đó cả gan dâng những vật tế ô uế lên Ta, chắc chắn sẽ bị hủy diệt bởi lửa trong đền thờ hay bị ném đá đến chết bởi một số người được chọn, và thậm chí con cháu các dòng dõi cùng họ hàng trực tiếp của chính chúng cũng sẽ chịu sự rủa sả của Ta. Ở những đời sau, chúng sẽ không được tự do, mà sẽ bị làm nô lệ cho các nô lệ của Ta, và Ta sẽ đưa chúng đi đày giữa dân ngoại, và chúng sẽ không thể quay trở lại xứ sở của mình. Dựa trên những hành động và hành vi của mình, sự đau khổ mà con người ngày nay chịu đựng không mấy nghiêm trọng như hình phạt mà dân Y-sơ-ra-ên đã chịu. Nói rằng điều mà các ngươi đang chịu là quả báo không phải là không có lý do, bởi vì các ngươi thật sự đã đi quá giới hạn. Nếu các ngươi ở Y-sơ-ra-ên, các ngươi đã phải trở thành những kẻ tội nhân đời đời, và các ngươi sẽ bị dân Y-sơ-ra-ên xẻ ra nhiều mảnh từ lâu và đã bị thiêu đốt bởi lửa từ trời trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. Giờ đây các ngươi đã đạt được gì? Các ngươi đã được nhận gì, và các ngươi đã tận hưởng được gì? Ta đã tiết lộ tâm tính công chính của Ta trong các ngươi, nhưng quan trọng nhất là Ta đã tiết lộ sự kiên nhẫn của Ta để cứu chuộc nhân loại. Một người có thể nói rằng công tác mà Ta đã làm trong các ngươi chỉ là công tác của sự kiên nhẫn; nó được thực hiện vì lợi ích cho sự quản lý của Ta và, hơn nữa, được thực hiện vì lợi ích cho sự hưởng thụ của nhân loại.
2020-05-15
Lời Chúa Hằng Ngày | Một đời sống Cơ đốc nhân
Các ngươi có ao ước được biết nguyên nhân gốc rễ vì sao người Pha-ri-si đã chống lại Jêsus không?
Các ngươi có ao ước được biết bản chất của người Pha-ri-si không?
Họ đầy ảo tưởng về Đấng Mê-si.
Hơn thế nữa, họ chỉ tin rằng Đấng Mê-si sẽ đến,
mà không tìm kiếm lẽ thật của sự sống.
Và vì vậy, cho đến tận ngày nay họ vẫn chờ đợi Đấng Mê-si,
bởi vì họ không có kiến thức gì về con đường sự sống,
và không biết con đường lẽ thật là gì.
Các ngươi nói xem, làm sao những kẻ ngốc nghếch, cố chấp và dốt nát như vậy có thể có được phước lành của Đức Chúa Trời?
Làm sao họ có thể thấy được Đấng Mê-si?
Họ đã chống lại Jêsus
bởi vì họ đã không biết đường hướng làm việc của Đức Thánh Linh,
bởi vì họ đã không biết con đường lẽ thật mà Jêsus đã phán,
và hơn thế nữa, bởi vì họ đã không hiểu về Đấng Mê-si.
Và bởi vì họ đã chưa bao giờ nhìn thấy Đấng Mê-si,
và chưa bao giờ đồng hành cùng Đấng Mê-si,
họ đã phạm sai lầm là dành sự tôn kính rỗng tuếch cho danh của Đấng Mê-si trong khi chống lại thực chất của Đấng Mê-si bằng bất kỳ giá nào.
Những người Pha-ri-si này thực chất là cố chấp, kiêu ngạo, và đã không tuân theo lẽ thật.
Nguyên tắc cho niềm tin vào Đức Chúa Trời của họ là:
Bất kể sự thuyết giáo của Ngài có thâm thúy ra sao, thẩm quyền của Ngài cao đến đâu,
thì Ngài vẫn không phải là Đấng Christ trừ khi Ngài được gọi là Đấng Mê-si.
Những quan điểm này không phải thật ngớ ngẩn và lố bịch hay sao?
Ta hỏi lại các ngươi: Chẳng phải cực kỳ dễ dàng để các ngươi mắc phải những sai lầm của những người Pha-ri-si nguyên thủy, khi các ngươi không có chút hiểu biết nào về Jêsus sao?
Ngươi có thể nhận thức được con đường lẽ thật không?
Ngươi có thể thật sự đảm bảo rằng ngươi sẽ không chống lại Đấng Christ sao?
Ngươi có thể theo được công việc của Đức Thánh Linh không?
Nếu ngươi không biết được liệu ngươi có chống lại Đấng Christ hay không,
thì Ta phán rằng ngươi đang sống cận kề cái chết.
Những người đã không biết về Đấng Mê-si đều có khả năng chống lại Jêsus, từ chối Jêsus, phỉ báng Ngài.
Những người không hiểu về Jêsus
đều có thể phủ nhận Ngài, và sỉ vả Ngài.
Hơn thế nữa, họ còn có thể xem sự quay trở lại của Jêsus là sự lừa dối của Sa-tan,
và sẽ càng nhiều người chỉ trích việc Jêsus đã quay trở lại với xác thịt.
Tất cả những điều này không khiến ngươi sợ hãi sao?
Những gì ngươi đối mặt sẽ là sự báng bổ Đức Thánh Linh,
sự hủy hoại những lời của Đức Thánh Linh đến các hội thánh,
và sự bác bỏ tất cả những gì Jêsus đã bày tỏ.
Ngươi có thể nhận được gì từ Jêsus nếu ngươi mụ mị đến như vậy?
Làm sao ngươi có thể hiểu được công việc của Jêsus khi Ngài trở lại với xác thịt trên một đám mây trắng,
nếu ngươi cứ ngoan cố không nhận ra những lỗi lầm của mình?
Ta phán với các ngươi điều này: Những người không chấp nhận lẽ thật,
nhưng vẫn mù quáng chờ đợi Jêsus đến trên đám mây trắng,
chắc chắn sẽ báng bổ Đức Thánh Linh,
và họ là loại người sẽ bị hủy diệt.
Ngươi đơn thuần ước ao có được ân điển của Jêsus,
và chỉ muốn tận hưởng cõi thiên đàng hạnh phúc,
nhưng ngươi lại chưa bao giờ tuân theo những lời Jêsus phán,
và chưa bao giờ nhận lãnh lẽ thật mà Jêsus bày tỏ khi Ngài quay trở lại với xác thịt.
Ngươi sẽ có gì để đổi lấy thực tế là Jêsus quay trở lại trên một đám mây trắng?
Đó có phải là sự chân thành khi mà ngươi liên tục phạm tội,
và rồi xưng tội, hết lần này đến lần khác không?
Ngươi sẽ dâng tế lễ gì cho Jêsus, Đấng quay trở lại trên một đám mây trắng?
Đó có phải là những năm làm việc để các ngươi tâng bốc chính mình?
Ngươi sẽ có gì để khiến Jêsus quay trở lại tin tưởng ngươi?
Đó có phải là bản chất kiêu ngạo của ngươi, là thứ không tuân theo bất kỳ lẽ thật nào?
Trích từ “Khi ngươi thấy được thân thể thuộc linh của Jêsus sẽ là khi Đức Chúa Trời đã làm mới lại trời đất”
2020-05-13
Phim Phúc Âm Tin Lành | GÕ CỬA | Làm thế nào để chào đón sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus?
Đức Chúa Jêsus đã tiên tri rằng: “Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người!” (Ma-thi-ơ 25:6). “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta” (Khải Huyền 3:20). Trong hai ngàn năm qua, các tín hữu tin vào Chúa đã thao thức trông chờ Chúa gõ cửa, vậy Ngài sẽ gõ cửa nhân loại như thế nào khi Ngài trở lại? Dương Ái Quang, nhân vật chính trong phim, đã tin Chúa hàng chục năm và luôn nhiệt tâm trong công tác và rao giảng. Chị đã có những trắc trở trong việc chờ Chúa đến, nhưng cuối cùng, mây mù tan biến và cuối cùng chị hiểu được cách Chúa gõ cửa con người khi Ngài trở lại, và cách chúng ta phải nghinh tiếp Ngài…
2020-05-12
Chỉ bằng cách trải qua những thử thách đau đớn, các ngươi mới có thể biết được sự đáng mến của Đức Chúa Trời
Ngày nay ngươi yêu Đức Chúa Trời nhiều đến đâu? Và ngươi biết về mọi điều Đức Chúa Trời đã thực hiện trong ngươi nhiều đến đâu? Đây là những điều ngươi nên tìm hiểu. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian, mọi điều Ngài đã làm trong con người và đã cho phép con người nhìn thấy là để con người yêu mến Ngài và thực sự biết Ngài. Hầu cho con người đó có thể chịu khổ vì Đức Chúa Trời và đã có thể đi xa đến như vậy, một mặt là nhờ tình yêu của Đức Chúa Trời, và mặt khác là nhờ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời; hơn nữa, chính là nhờ công tác phán xét và trừng phạt mà Đức Chúa Trời đã thực hiện trong con người. Nếu các ngươi không có sự phán xét, sự trừng phạt và những thử thách của Đức Chúa Trời, và nếu Đức Chúa Trời đã không khiến cho các ngươi chịu khổ, thì thành thật mà nói, các ngươi sẽ không thực sự yêu mến Đức Chúa Trời. Công việc của Đức Chúa Trời trong con người càng vĩ đại, và sự đau khổ của con người càng lớn, thì càng có thể cho thấy công việc của Đức Chúa Trời có ý nghĩa ra sao, và lòng của người đó càng có thể thực sự yêu mến Đức Chúa Trời. Làm thế nào để ngươi học được cách yêu mến Đức Chúa Trời? Nếu thiếu sự dằn vặt và tinh luyện, nếu thiếu những thử thách đau đớn - và hơn nữa, nếu tất cả những gì Đức Chúa Trời ban cho con người là ân điển, tình yêu và lòng thương xót - thì liệu ngươi có thể đạt được tình yêu Đức Chúa Trời thực sự không? Một mặt, trong những thử thách của Đức Chúa Trời, con người biết được những thiếu sót của mình, và thấy rằng họ là tầm thường, đáng khinh và thấp hèn, rằng họ chẳng có gì, và chẳng là gì cả; mặt khác, trong những thử thách của Ngài, Đức Chúa Trời tạo ra những môi trường khác nhau cho con người để khiến con người có thể trải nghiệm nhiều hơn về sự đáng mến của Đức Chúa Trời. Mặc dù nỗi đau là rất lớn, và đôi khi không thể vượt qua được - và thậm chí nó còn lên đến mức độ đau buồn tan nát - khi đã trải nghiệm nó, con người thấy được công tác của Đức Chúa Trời trong họ đáng yêu mến ra sao, và chỉ dựa trên nền tảng này mới tạo ra trong con người tình yêu Đức Chúa Trời thực sự. Ngày nay con người nhận thấy rằng chỉ với ân điển, tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, họ không có khả năng thực sự hiểu được chính mình, họ càng không thể biết được bản chất của con người. Chỉ thông qua sự tinh luyện và sự phán xét của Đức Chúa Trời, chỉ trong sự tinh luyện như thế thì con người mới có thể biết được những thiếu sót của họ, và biết rằng họ chẳng có gì. Do đó, tình yêu Đức Chúa Trời của con người được xây dựng trên nền tảng của sự tinh luyện và sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi chỉ tận hưởng ân điển của Đức Chúa Trời, có một cuộc sống gia đình yên bình hoặc những phước lành về vật chất, thì ngươi đã không có được Đức Chúa Trời, và niềm tin của ngươi vào Đức Chúa Trời không thể được coi là thành công. Đức Chúa Trời đã thực hiện một giai đoạn của công tác về ân điển trong xác thịt, và đã ban phước lành về vật chất cho con người - nhưng con người không thể được làm cho hoàn thiện chỉ với ân điển, tình yêu và lòng thương xót mà thôi. Trong những trải nghiệm của con người, họ bắt gặp phần nào tình yêu của Đức Chúa Trời, thấy được tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, nhưng khi đã trải nghiệm một thời gian, họ nhận thấy rằng ân điển của Đức Chúa Trời, tình yêu và lòng thương xót của Ngài không thể làm hoàn thiện con người, và không thể phơi bày điều nào là bại hoại bên trong con người, chúng cũng không thể giúp con người thoát khỏi tâm tính bại hoại của mình, hoặc làm hoàn thiện tình yêu và đức tin của mình. Công tác về ân điển của Đức Chúa Trời là công việc của một giai đoạn, và con người không thể dựa vào việc tận hưởng ân điển của Đức Chúa Trời để biết Đức Chúa Trời.
2020-05-11
Câu chuyện thật đằng sau công tác của Thời đại Cứu chuộc
Toàn bộ kế hoạch quản lý của Ta, một kế hoạch trải dài sáu ngàn năm, gồm có ba giai đoạn, hoặc ba thời đại như sau: mở đầu là Thời Đại Luật Pháp; Thời Đại Ân Điển (cũng gọi là Thời Đại Cứu Chuộc); và cuối cùng là Thời Đại Vương Quốc. Công việc của Ta ở ba thời đại này là khác nhau, tuỳ theo bản chất của mỗi thời đại, nhưng ở mỗi giai đoạn nó sẽ phù hợp với nhu cầu của con người - hay nói chính xác hơn là nó được thực hiện để chống lại những mưu trò mà Sa-tan bày ra trong cuộc chiến mà Ta đang giao đấu. Công việc của Ta là để đánh bại Sa-tan, để chứng tỏ sự khôn ngoan và toàn năng của Ta, để phơi bày hết các mưu chước của Sa-tan và như vậy là để cứu vớt toàn nhân loại đang sống trong lãnh địa của nó. Điều này là để thể hiện sự khôn ngoan và toàn năng của Ta, đồng thời cũng phanh phui được sự ghê tởm quá thể của Sa-tan. Hơn nữa là để dạy cho các vật thọ tạo của Ta phân biệt được điều tốt và cái xấu, biết được rằng Ta là Đấng Thống Trị của vạn vật, thấy rõ được rằng Sa-tan là kẻ thù của nhân loại, là kẻ thấp hèn nhất trong những kẻ thấp hèn, là tà ác, và chỉ ra chắc chắn được sự khác biệt giữa tốt và xấu, giữa lẽ thật và sự sai trái, giữa thánh thiện và rác rưởi, giữa cao quý và ô nhục. Bằng cách này, loài người mê muội sẽ có thể làm chứng cho Ta rằng Ta không phải là kẻ làm sa ngã loài người, và chỉ có Ta - Chúa sáng thế - mới có thể cứu rỗi được loài người, mới có thể ban cho con người những thứ họ hưởng thụ; và họ sẽ biết được rằng Ta là Đấng Thống Trị của vạn vật còn Sa-tan chỉ là một trong những loài Ta tạo ra nhưng rồi đã chống lại Ta. Kế hoạch quản lý sáu ngàn năm của Ta chia làm ba giai đoạn để có thể đạt được kết quả này: con cái Ta trở thành các nhân chứng cho Ta, hiểu được ý muốn của Ta, và biết được Ta là lẽ thật. Như vậy, trong giai đoạn đầu của kế hoạch quản lý sáu ngàn năm của Ta, Ta đã thực hiện công việc pháp luật, tức là công việc mà Đức Giê-hô-va đã dẫn dắt con cái của Ngài. Giai đoạn thứ hai khởi đầu các công việc của Thời Đại Ân Điển tại xứ Giu-đa. Jêsus đại diện cho mọi công việc của Thời Đại Ân Điển; Ngài giáng sinh trong xác trần và chịu đóng đinh trên thập tự giá, và Ngài cũng mở đầu cho Thời Đại Ân Điển. Ngài chịu đóng đinh để hoàn thành công việc cứu chuộc, để kết thúc Thời Đại Luật Pháp và mở ra Thời Đại Ân Điển, vì thế Ngài được gọi là “Đấng Chỉ Huy Tối Cao”, là “Đấng Chịu Tội”, là “Đấng Cứu Chuộc”. Như vậy, nội dung công việc của Jêsus khác với Đức Giê-hô-va, mặc dù về nguyên tắc thì vẫn giống nhau. Đức Giê-hô-va bắt đầu Thời Đại Luật Pháp, tạo lập nền tảng - điểm khởi nguồn - cho công tác của Đức Chúa Trời ở trần thế, và ban hành các luật lệ và điều răn. Đây là hai phần của công tác mà Ngài đã thực hiện, và chúng đại diện cho Thời Đại Luật Pháp. Công tác Jêsus đã làm trong Thời Đại Ân Điển không phải là ban hành các luật lệ, mà là thực hiện chúng, do đó mở ra Thời Đại Ân Điển và khép lại Thời Đại Luật Pháp đã tồn, tại hai ngàn năm. Ngài là người tiên phong, đến để khai mở Thời Đại Ân Điển, thế mà công việc chính của Ngài lại là cứu chuộc. Và như thế thành tựu của Ngài có hai phần: mở ra một thời đại mới, và hoàn tất công việc cứu chuộc của Ngài trên thập tự giá. Rồi Ngài đã rời đi. Và từ đây, Thời Đại Luật Pháp đã khép lại và Thời Đại Ân Điển mở ra.
2020-05-10
Xét về Kinh Thánh (3)
Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều là một bản ghi chép về những lời Đức Chúa Trời đã đích thân phán dạy. Kinh Thánh chỉ đơn giản ghi lại hai giai đoạn trước của công tác Đức Chúa Trời, một phần là bản ghi chép về những lời tiên báo của các tiên tri, còn một phần là những kinh nghiệm và kiến thức được viết bởi những người được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại. Những kinh nghiệm của con người bị vấy bẩn bởi những quan điểm và kiến thức của con người, đó là điều không thể tránh khỏi. Trong nhiều sách của Kinh Thánh có chứa những ý niệm của con người, những thành kiến của con người, và những nhận thức phi lý của con người. Tất nhiên, hầu hết những lời đều là kết quả của sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh, và chúng là những hiểu biết chính xác - nhưng vẫn không thể nói rằng chúng là những sự bày tỏ hoàn toàn chính xác về lẽ thật. Những quan điểm của họ về những điều cụ thể không gì khác hơn là kiến thức từ kinh nghiệm cá nhân, hoặc sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Việc tiên báo của các tiên tri đã được Đức Chúa Trời đích thân chỉ dẫn: Những lời tiên tri tương tự như của Ê-sai, Đa-ni-ên, E-xơ-ra, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên xuất phát từ sự chỉ dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh, những người này là những nhà tiên kiến, họ đã nhận được Thần tiên tri, tất cả họ đều là các tiên tri của Cựu Ước. Trong Thời đại Luật pháp, những người này là những người đã nhận được sự soi dẫn của Đức Giê-hô-va, đã nói nhiều lời tiên tri được Đức Giê-hô-va trực tiếp chỉ dẫn. Và tại sao Đức Giê-hô-va đã làm việc qua họ? Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là dân sự được Chúa chọn, và công tác của các tiên tri phải được thực hiện giữa họ; đó là lí do tại sao các tiên tri có thể nhận được những sự mặc khải như thế. Thực ra, chính họ đã không hiểu những sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho họ. Đức Thánh Linh đã phán những lời đó qua miệng của họ hầu cho những người trong tương lai có thể thấu hiểu được những điều đó, và thấy rằng chúng thực sự là công tác của Thần của Đức Chúa Trời, của Đức Thánh Linh, chứ không đến từ con người, và để ban cho họ sự quả quyết về công tác của Đức Thánh Linh. Trong Thời đại Ân điển, chính Jêsus đã làm tất cả công tác này thay cho họ, và vì vậy mọi người không còn nói tiên tri nữa. Vậy Jêsus có phải là một tiên tri không? Dĩ nhiên, Jêsus là một tiên tri, nhưng Ngài cũng có thể làm công tác của các sứ đồ: Ngài có thể vừa nói tiên tri vừa rao giảng và dạy bảo mọi người trên khắp vùng đất. Tuy nhiên, công tác Ngài đã làm và danh tính mà Ngài đại diện là khác. Ngài đã đến để cứu chuộc toàn nhân loại, để cứu chuộc con người khỏi tội lỗi; Ngài là một tiên tri và là một sứ đồ, nhưng hơn thế nữa, Ngài là Đấng Christ. Một tiên tri có thể nói tiên tri, nhưng không thể nói rằng người là Đấng Christ. Vào lúc đó, Jêsus đã phán nhiều lời tiên tri, và vì vậy có thể nói rằng Ngài là một tiên tri, nhưng không thể nói rằng vì Ngài là một tiên tri nên không phải là Đấng Christ. Đó là bởi vì Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời trong việc thực hiện một giai đoạn công tác, và danh tính của Ngài khác với của Ê-sai: Ngài đã đến để hoàn tất công tác cứu chuộc, Ngài cũng đã cung cấp sự sống cho con người, và Thần của Đức Chúa Trời đã đến với Ngài một cách trực tiếp. Trong công tác Ngài đã làm, không có sự soi dẫn nào từ Thần của Đức Chúa Trời hoặc những chỉ dẫn từ Đức Giê-hô-va. Thay vào đó, Thần đã làm việc trực tiếp - điều đó đủ để chứng tỏ rằng Jêsus không giống như một nhà tiên tri. Công tác Ngài đã làm là công tác cứu chuộc, đứng thứ hai tiếp sau đó mới là việc nói tiên tri. Ngài là một tiên tri, một sứ đồ, và hơn thế nữa Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Trong khi đó, những người tiên báo chỉ có thể nói tiên tri, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời để làm bất kỳ công tác nào khác. Bởi vì Jêsus đã làm nhiều việc mà trước đây chưa từng được con người thực hiện và đã làm công tác cứu chuộc nhân loại, do đó Ngài khác với những người như Ê-sai. Việc một số người không chấp nhận dòng chảy của ngày nay là vì điều này đã tạo ra một trở ngại cho họ. Họ nói: “Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri cũng đã phán nhiều lời - vậy tại sao họ không phải là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt? Đức Chúa Trời của ngày nay phán lời - điều đó có đủ để chứng minh rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể không? Bạn không tôn trọng Kinh Thánh, bạn cũng không nghiên cứu nó - vậy bạn có cơ sở nào để nói rằng Ngài là sự nhập thể của Đức Chúa Trời? Bạn nói rằng họ được Đức Thánh Linh chỉ dẫn, và bạn tin rằng giai đoạn công tác này là công tác do Đức Chúa Trời đích thân thực hiện - nhưng cơ sở của bạn cho điều này là gì? Bạn dồn sự tập trung vào những lời của Đức Chúa Trời ngày nay, trông như thể bạn đã phủ nhận Kinh Thánh, và đặt nó sang một bên”. Và vì vậy họ nói rằng ngươi tin vào tà giáo và dị giáo.
2020-05-08
Chỉ bằng cách trải qua sự tinh luyện con người mới có thể sở hữu tình yêu thật sự
Tất cả các ngươi đang ở giữa sự thử thách và tinh luyện. Ngươi nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tinh luyện? Trải qua sự tinh luyện rồi, con người có thể dâng lên Đức Chúa Trời lời ca tụng thật sự, và giữa sự tinh luyện, họ có thể thấy mình đang thiếu sót rất nhiều. Càng được tinh luyện thì ngươi càng có thể từ bỏ xác thịt; càng được tinh luyện thì con người càng yêu mến Đức Chúa Trời hơn. Đây chính là điều các ngươi nên thông hiểu. Tại sao con người phải được tinh luyện? Sự tinh luyện nhằm đạt được hiệu quả gì? Tầm quan trọng của việc tinh luyện mà Đức Chúa Trời thực hiện trong con người là gì? Nếu ngươi thực sự tìm kiếm Đức Chúa Trời rồi cảm nghiệm được sự tinh luyện của Ngài đến một mức độ nào đó ngươi sẽ cảm thấy rằng điều đó thật tốt và đó là điều cần thiết tột bậc. Con nguời nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tinh luyện? Bằng cách dùng quyết tâm yêu mến Đức Chúa Trời để chấp nhận sự tinh luyện của Ngài: Trong quá trình tinh luyện, ngươi cảm biết đau đớn trong lòng như bị một luỡi dao đâm xoáy vào tim, tuy nhiên ngươi sẵn sàng làm thỏa lòng Đức Chúa Trời bằng tấm lòng mình, tấm lòng yêu mến Đức Chúa Trời và ngươi không hề muốn quan tâm đến xác thịt. Đây là ý nghĩa của việc thực hành tình yêu dành cho Đức Chúa Trời. Ngươi đau bên trong, và nỗi đau đớn của ngươi đã đến một mức nào đó, tuy nhiên ngươi vẫn sẵn lòng đến trước Đức Chúa Trời, và cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Chúa Trời! Con không thể rời xa Người. Dẫu rằng có bóng tối trong con thì con vẫn muốn làm đẹp lòng Người; Người biết tấm lòng của con và con ước rằng Người dành cho con nhiều tình yêu thương hơn nữa”. Đây là sự luyện tập trong suốt quá trình tinh luyện. Nếu ngươi dùng lòng yêu mến Đức Chúa Trời làm nền tảng, thì sự tinh luyện có thể đem ngươi đến gần Đức Chúa Trời hơn và làm cho ngươi trở nên mật thiết hơn với Ngài. Vì ngươi tin Đức Chúa Trời, nên ngươi phải dâng lòng mình trước Đức Chúa Trời. Nếu ngươi dâng và trải lòng ngươi trước Đức Chúa Trời, thì trong quá trình tinh luyện, ngươi sẽ không thể từ chối Đức Chúa Trời, hoặc rời xa Ngài. Bằng cách này thì mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên gần gũi hơn và bình thường hơn bao giờ hết và mối tương giao giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên thường xuyên hơn bao giờ hết. Nếu ngươi luôn thực hành theo cách này thì ngươi sẽ dành nhiều thời gian hơn trong sự sáng của Đức Chúa Trời, và nhiều thời gian hơn dưới sự chỉ dẫn của lời Ngài, cũng sẽ ngày càng có nhiều thay đổi trong tâm tính ngươi, và sự hiểu biết của ngươi sẽ gia tăng từng ngày. Khi ngày ấy đến và những thử thách của Đức Chúa Trời thình lình giáng xuống ngươi, ngươi chẳng những có thể đứng bên cạnh Đức Chúa Trời mà còn có thể làm chứng về Ngài. Lúc đó, ngươi cũng sẽ giống như Gióp và Phi-e-rơ. Khi đã làm chứng về Đức Chúa Trời thì ngươi sẽ thực sự yêu mến Ngài và sẽ vui lòng phó thác cuộc sống của mình cho Ngài; ngươi sẽ là chứng nhân của Đức Chúa Trời và là người được Đức Chúa Trời yêu thương. Tình yêu thương đã kinh qua sự tinh luyện thì mạnh mẽ và không hề yếu đuối. Bất kể khi nào hay bằng cách thức nào mà Đức Chúa Trời bắt ngươi phải chịu những thử thách của Ngài, ngươi đều có thể bất kể sống chết, vui mừng gạt bỏ mọi thứ sang một bên vì Đức Chúa Trời và vui lòng gánh chịu bất cứ điều gì vì Ngài - và như thế tình yêu thương của ngươi sẽ trở nên thánh khiết và đức tin của ngươi sẽ trở thành đức tin thật. Chỉ đến lúc đó ngươi mới là người được Đức Chúa Trời thực sự yêu mến và được làm cho toàn vẹn bởi Đức Chúa Trời.
2020-05-07
Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)
Giăng đã làm việc bảy năm cho Jêsus, và đã dọn đường khi Jêsus đến. Trước đó, Phúc Âm về vương quốc thiên đàng do Giăng rao giảng đã được nghe thấy khắp vùng, hầu cho nó lan rộng khắp Giu-đê, và mọi người gọi Giăng là một tiên tri. Vào lúc đó, Vua Hê-rốt muốn giết Giăng, nhưng lại không dám, vì dân chúng rất kính trọng Giăng, và Hê-rốt sợ rằng nếu vua giết Giăng thì họ sẽ nổi dậy chống lại vua. Công tác được Giăng thực hiện đã bén rễ giữa những người bình thường, và người đã tạo nên những tín đồ người Do Thái. Trong bảy năm, người đã dọn đường cho Jêsus, cho đến khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài. Và vì vậy, Giăng là người vĩ đại nhất trong tất cả các tiên tri. Jêsus chỉ bắt đầu công tác chính thức của Ngài sau khi Giăng bị cầm tù. Trước Giăng, chưa từng có một tiên tri nào dọn đường cho Đức Chúa Trời, bởi vì trước Jêsus, Đức Chúa Trời chưa bao giờ trở nên xác thịt trước đó. Và vì vậy, trong số tất cả các tiên tri cho đến Giăng, người là tiên tri duy nhất dọn đường cho Đức Chúa Trời nhập thể, và bằng cách này Giăng đã trở thành tiên tri vĩ đại nhất của Cựu và Tân Ước. Giăng đã bắt đầu rao truyền Phúc Âm của vương quốc thiên đàng bảy năm trước khi Jêsus nhận phép báp-têm. Đối với mọi người, công tác người đã làm dường như vượt trên công tác tiếp sau đó của Jêsus, tuy nhiên, người vẫn chỉ là một tiên tri mà thôi. Người đã làm việc và phán dạy không phải bên trong đền thờ, mà là ở các thị trấn và làng mạc bên ngoài đền thờ. Tất nhiên, người đã làm điều này giữa dân tộc Do Thái, đặc biệt là những người nghèo khổ. Hiếm khi Giăng tiếp xúc với những người từ giới thượng lưu của xã hội, chỉ rao truyền Phúc Âm giữa những người bình thường tại Giu-đê nhằm chuẩn bị những người phù hợp cho Đức Chúa Jêsus, và chuẩn bị những địa điểm thích hợp để Ngài làm việc. Với một tiên tri như Giăng mở đường, Đức Chúa Jêsus đã có thể bắt đầu ngay con đường thập tự giá của Ngài ngay khi Ngài đến. Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, Ngài đã không phải làm công tác chọn người, và không cần phải đích thân tìm người hay địa điểm để làm việc. Ngài đã không làm những việc như thế khi Ngài đến; người thích hợp đã chuẩn bị cho Ngài trước khi Ngài đến. Giăng đã hoàn thành công tác này trước khi Jêsus bắt đầu công tác của Ngài, vì khi Đức Chúa Trời nhập thể đến để thực hiện công tác của mình, Ngài đã bắt tay làm việc ngay trên những người đã chờ đợi Ngài từ lâu. Jêsus đã đến không phải để thực hiện công tác cải chính của con người. Ngài đã đến chỉ để thực hiện chức vụ mà chính Ngài phải thực hiện, và mọi thứ khác đều không liên quan đến Ngài. Khi Giăng đến, người đã không làm gì khác ngoài việc đưa ra khỏi đền thờ và giữa vòng dân Do Thái một nhóm người chấp nhận Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, để họ có thể trở thành những đối tượng cho công tác của Đức Chúa Jêsus. Giăng đã làm việc trong bảy năm, có nghĩa là người đã rao truyền Phúc Âm trong bảy năm. Trong công tác của mình, Giăng đã không thực hiện nhiều phép lạ, vì công tác của người là dọn đường, đó là công tác chuẩn bị. Tất cả những công tác khác, công tác Jêsus sẽ làm, không liên quan đến người; người đã chỉ yêu cầu con người xưng tội của mình và ăn năn, và làm phép báp-têm cho mọi người, hầu cho họ có thể được cứu rỗi. Mặc dù người đã làm công tác mới và đã mở ra một con đường mà con người chưa từng đi trước đó, nhưng người vẫn chỉ dọn đường cho Jêsus mà thôi. Người chỉ đơn thuần là một tiên tri đã làm công tác chuẩn bị, và không có khả năng làm công tác của Jêsus. Mặc dù Jêsus không phải là người đầu tiên rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, và mặc dù Ngài tiếp tục trên con đường mà Giăng đã mở ra, nhưng vẫn không có ai khác có thể làm công tác của Ngài, và nó vượt lên trên công tác của Giăng. Jêsus đã không thể chuẩn bị con đường riêng của Ngài; công tác của Ngài đã được thực hiện trực tiếp nhân danh Đức Chúa Trời. Và vì vậy, cho dù Giăng đã làm việc bao nhiêu năm thì người vẫn là một tiên tri, và vẫn là một người dọn đường. Ba năm công tác do Jêsus thực hiện đã vượt qua bảy năm công tác của Giăng, vì thực chất công tác của Ngài không giống như của Giăng. Khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, đó cũng là lúc công tác của Giăng kết thúc, Giăng đã chuẩn bị đủ người và địa điểm cho Đức Chúa Jêsus sử dụng, và chúng đã đủ cho Đức Chúa Jêsus bắt đầu ba năm công tác. Và vì vậy, ngay khi công tác của Giăng kết thúc, Đức Chúa Jêsus đã chính thức bắt đầu công tác của riêng Ngài, và những lời Giăng đã nói bị gạt sang một bên. Đó là do công tác mà Giăng thực hiện chỉ nhằm mục đích chuyển tiếp, và những lời nói của người không phải là những lời của sự sống sẽ đưa con người đến sự tăng trưởng mới; cuối cùng, những lời nói của người chỉ có ích lợi tạm thời mà thôi.
2020-05-06
Biết Đức Chúa Trời là cách để kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác
Mỗi người các ngươi nên xem xét lại cuộc đời tin vào Đức Chúa Trời của mình để xem khi theo Đức Chúa Trời, liệu ngươi có thật sự hiểu, thật sự hiểu thấu, và thật sự biết được Đức Chúa Trời hay không, liệu ngươi có thật sự biết Đức Chúa Trời có thái độ gì với những dạng người khác nhau, và liệu ngươi có thật sự hiểu công tác mà Đức Chúa Trời đang làm trên ngươi và Đức Chúa Trời định nghĩa từng hành động của ngươi như thế nào. Đức Chúa Trời này, Đấng bên cạnh ngươi, chỉ lối cho sự tiến triển của ngươi, định đoạt số mệnh của ngươi, và cung cấp cho những nhu cầu của ngươi - xét cho cùng, ngươi hiểu được bao nhiêu về Đức Chúa Trời này? Ngươi thật sự biết được bao nhiêu về Đức Chúa Trời này? Ngươi có biết Ngài làm gì trên ngươi mỗi một ngày không? Ngươi có biết những nguyên tắc và mục đích mà Ngài làm căn cứ cho mọi hành động của Ngài không? Ngươi có biết Ngài hướng dẫn ngươi thế nào không? Ngươi có biết những phương tiện mà Ngài dùng để cung cấp cho ngươi không? Ngươi có biết những phương pháp mà Ngài dùng để dẫn dắt ngươi không? Ngươi có biết Ngài mong muốn đạt được gì từ ngươi và mong muốn đạt được gì ở ngươi không? Ngươi có biết thái độ của Ngài đối với những cách hành xử khác nhau của ngươi không? Ngươi có biết liệu mình có phải là một người được Ngài yêu mến không? Ngươi có biết nguồn gốc của sự hoan hỉ, giận dữ, đau buồn , và vui mừng của Ngài, những suy nghĩ và ý tưởng đằng sau đó, và bản chất của Ngài không? Ngươi có biết cuối cùng thì Đức Chúa Trời mà ngươi tin này là dạng Đức Chúa Trời nào không? Có phải những câu hỏi này và những câu hỏi khác tương tự là điều ngươi chưa bao giờ hiểu hay nghĩ về không? Khi theo đuổi niềm tin của mình vào Đức Chúa Trời, ngươi đã loại bỏ được những hiểu lầm của mình về Ngài bằng sự cảm kích và trải nghiệm thật sự lời Chúa chưa? Sau khi nhận lãnh sự sửa dạy và sửa phạt của Đức Chúa Trời, ngươi đã có được sự vâng lời và quan tâm thật sự chưa? Giữa sự trừng phạt và phán xét của Đức Chúa Trời, ngươi đã nhận biết được sự phản nghịch và bản chất sa-tan của con người và có được chút hiểu biết về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời chưa? Dưới sự hướng dẫn và khai sáng của lời Chúa, ngươi đã bắt đầu có cách nhìn mới về sự sống chưa? Giữa những thử thách mà Đức Chúa Trời gửi tới, ngươi đã cảm nhận được sự không dung thứ của Ngài đối với những xúc phạm của con người cũng như những gì Ngài yêu cầu ở ngươi và cách Ngài đang cứu rỗi ngươi chưa? Nếu ngươi không biết hiểu lầm Đức Chúa Trời là gì, hay cách loại bỏ sự hiểu lầm này, khi ấy có thể nói rằng ngươi chưa bao giờ bước vào sự tương giao thật sự với Đức Chúa Trời và chưa bao giờ hiểu Đức Chúa trời, hoặc ít nhất có thể nói ngươi chưa bao giờ mong muốn được hiểu Ngài. Nếu ngươi không biết sự sửa dạy và sửa phạt của Đức Chúa Trời là gì, vậy thì ngươi chắc chắn không biết sự vâng lời và quan tâm là gì, hay chí ít ngươi chưa bao giờ vâng lời hay quan tâm Đức Chúa Trời thật sự. Nếu ngươi chưa bao giờ trải nghiệm sự trừng phạt và phán xét của Đức Chúa Trời, vậy thì ngươi chắc chắn không biết sự thánh khiết của Ngài là gì, và ngươi thậm chí sẽ càng không rõ sự phản nghịch của con người là gì. Nếu ngươi chưa bao giờ thật sự có cái nhìn đúng về sự sống, hay một mục đích đúng trong cuộc sống, mà vẫn trong trạng thái bối rối và do dự về con đường tương lai của mình trong cuộc sống, thậm chí tới mức lưỡng lự tiến tới, vậy thì chắc chắn ngươi chưa bao giờ nhận lãnh sự khai sáng và hướng dẫn của Đức Chúa Trời; cũng có thể nói rằng ngươi chưa bao giờ thật sự được cung cấp hay bổ sung bởi lời Chúa. Nếu ngươi chưa trải qua những thử thách của Đức Chúa Trời, vậy thì hiển nhiên ngươi chắc hẳn không biết sự không dung thứ của Đức Chúa Trời đối với những xúc phạm của con người là gì, ngươi cũng sẽ không hiểu cuối cùng Đức Chúa Trời yêu cầu điều gì ở ngươi, và càng không hiểu cuối cùng công tác quản lý và cứu rỗi con người của Ngài là gì. Bất kể con người đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm, nếu họ chưa bao giờ trải nghiệm hay nhận thức bất cứ điều gì trong lời Chúa, vậy thì chắc chắn họ không đang đi trên con đường hướng tới sự cứu rỗi, đức tin của họ vào Đức Chúa Trời chắc chắn không có nội dung thật, kiến thức của họ về Đức Chúa Trời chắc chắn cũng là con số không, và hiển nhiên họ hoàn toàn không biết tôn kính Đức Chúa Trời là gì.
2020-05-04
Về trải nghiệm
Xuyên suốt trải nghiệm của Phi-e-rơ, ông đã gặp phải hàng trăm thử thách. Mặc dù con người ngày nay biết thuật ngữ “thử thách”, nhưng họ bị nhầm lẫn về ý nghĩa thực sự và hoàn cảnh của từ này. Đức Chúa Trời tôi luyện ý chí quyết tâm của con người, tinh luyện sự tin chắc của họ và hoàn thiện mọi phần của họ - và việc này chủ yếu đạt được thông qua các thử thách, cũng là công tác của Đức Thánh Linh mà mọi người không thể thấy. Điều đó như thể Đức Chúa Trời đã bỏ rơi con người, và vì vậy nếu không cẩn thận, họ sẽ xem những thử thách này là cám dỗ của Sa-tan. Trong thực tế, nhiều thử thách có thể được coi là cám dỗ, và đây là nguyên tắc và luật lệ trong công tác của Đức Chúa Trời. Nếu con người thực sự sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, họ sẽ coi những thứ này là thử thách từ Đức Chúa Trời, và sẽ không để tuột mất những thử thách này. Nếu ai đó nói rằng vì Đức Chúa Trời ở cùng họ, Sa-tan chắc chắn sẽ không đến gần họ, điều này không hoàn toàn chính xác; nếu như vậy thì làm thế nào có thể giải thích rằng Jêsus đã phải đối mặt với những cám dỗ sau khi Ngài đã kiêng ăn nơi đồng vắng trong bốn mươi ngày? Vì vậy, nếu con người thực sự điều chỉnh cho đúng đắn quan điểm của họ về niềm tin vào Đức Chúa Trời, thì họ sẽ thấy nhiều điều rõ ràng hơn nữa, và sự hiểu biết của họ sẽ không bị sai lệch và lầm lạc. Nếu ai đó thực sự quyết tâm để được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện, thì họ phải tiếp cận những vấn đề đối mặt với họ từ nhiều góc độ khác nhau, không nghiêng ngả sang bên hữu hay bên tả. Nếu ngươi không có kiến thức về công tác của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ không biết cách hợp tác với Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không biết các nguyên tắc trong công tác của Đức Chúa Trời và không biết Sa-tan hoạt động ra sao trong con người, thì ngươi sẽ không có con đường đi đến thực hành. Chỉ có sự theo đuổi nhiệt tình không thôi sẽ không cho phép ngươi đạt được những kết quả mà Đức Chúa Trời yêu cầu. Một phương pháp trải nghiệm như vậy khá giống với Lawrence: không phân biệt bất cứ điều gì và chỉ tập trung vào trải nghiệm, hoàn toàn không biết công việc của Sa-tan là gì, công tác của Đức Thánh Linh là gì, con người như thế nào nếu không có sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và loại người nào Đức Chúa Trời muốn hoàn thiện. Những nguyên tắc nào nên được áp dụng khi tiếp xúc với những loại người khác nhau, làm thế nào để nắm bắt ý muốn của Đức Chúa Trời trong hiện tại, làm thế nào để biết được tâm tính của Đức Chúa Trời, và sự thương xót, oai nghi và công chính của Đức Chúa Trời là dành cho người nào, hoàn cảnh nào và thời đại nào - người không có nhận thức về những vấn đề này. Nếu con người không có nhiều khải tượng làm nền tảng cho trải nghiệm của họ, thì cuộc sống sẽ không còn gì để bàn, và việc trải nghiệm thì còn tồi tệ hơn nữa; họ có thể tiếp tục quy phục và chịu đựng mọi thứ một cách ngu ngốc. Những người như vậy rất khó để làm cho hoàn thiện. Có thể nói rằng nếu ngươi không có những khải tượng đã nói ở trên, thì đây là bằng chứng rất rõ ràng cho thấy ngươi là một kẻ ngốc, ngươi giống như tượng muối luôn đứng ở Y-sơ-ra-ên. Những kẻ như vậy là vô dụng, vô tích sự! Một số người chỉ biết quy phục một cách mù quáng, họ luôn biết mình và luôn sử dụng những cách tự xử lý khi giải quyết những vấn đề mới, hoặc họ sử dụng “sự khôn ngoan” để xử lý những vấn đề tầm thường không đáng nhắc đến. Những người như vậy không có nhận thức, như thể bản chất của họ là cam chịu để được chọn, và họ luôn như vậy, họ không bao giờ thay đổi. Những người như vậy là những kẻ ngốc, thiếu ngay cả nhận thức tối thiểu nhất. Họ không bao giờ cố gắng để đưa ra các biện pháp phù hợp với những hoàn cảnh hoặc với những người khác nhau. Những người như vậy không có trải nghiệm. Ta đã thấy một số người bị trói buộc trong sự hiểu biết về bản thân đến nỗi khi đối mặt với những kẻ bị xâm chiếm bởi hoạt động của tà linh, họ cúi đầu và xưng tội, không dám đứng lên và lên án những kẻ này. Còn khi đối diện với công tác hiển nhiên của Đức Thánh Linh, họ không dám vâng lời. Họ tin rằng những ác linh này cũng nằm trong tay của Đức Chúa Trời, và không có chút can đảm nào để đứng lên và chống lại chúng. Những người như thế này mang ô nhục cho Đức Chúa Trời, và hoàn toàn không có khả năng gánh vác trọng trách cho Ngài. Những kẻ bù nhìn như vậy không tạo ra sự khác biệt dưới bất kỳ hình thức nào. Do đó, chúng ta nên loại bỏ phương pháp trải nghiệm như vậy, vì phương pháp đó không thể đứng vững trong mắt Đức Chúa Trời.
Luận bàn về đời sống hội thánh và đời sống thực
Con người ta cảm thấy rằng họ chỉ có thể cải hóa trong đời sống hội thánh, và nếu như họ không sống trong hội thánh thì cải hóa là điều bất khả thi, như thể sự cải hóa là điều bất khả thi trong đời sống thực vậy. Các ngươi có hiểu vấn đề ở đây không? Trước đây Ta đã bàn về việc đưa Đức Chúa Trời vào đời sống thực; đối với những người tin vào Chúa, đây là con đường dẫn đến hiện thực của lời Chúa. Thật vậy, đời sống hội thánh chỉ là một cách hữu hạn để hoàn thiện con người. Môi trường chính yếu để hoàn thiện con người vẫn là đời sống thực. Đây là sự thực hành và rèn luyện thực sự mà Ta đã bàn về, nó cho phép con người đạt được cuộc sống con người đúng nghĩa và sống trọn hình tượng của một con người đích thực trong cuộc sống hàng ngày. Một mặt, người ta phải học hỏi để nâng cao trình độ học vấn của chính mình, để hiểu lời Chúa và đạt tới khả năng tiếp nhận. Mặt khác, họ phải được trang bị kiến thức cơ bản cần có để sống như một con người nhằm có được cái nhìn sâu sắc và lý trí của nhân tính đúng nghĩa, bởi vì con người gần như hoàn toàn thiếu sót trong các lĩnh vực này. Hơn nữa, người ta cũng cần phải bắt đầu nếm trải lời Chúa thông qua đời sống hội thánh và dần dần đi đến hiểu biết rõ ràng về lẽ thật.
2020-05-01
Mười sắc lệnh quản trị phải được vâng phục bởi dân sự được Chúa chọn trong Thời đại Vương quốc
1. Con người không nên phóng đại, hay đề cao chính mình. Họ nên thờ phượng và tôn vinh Đức Chúa Trời.
2. Làm mọi việc có lợi cho công tác của Đức Chúa Trời và không làm điều gì bất lợi cho công tác của Đức Chúa Trời. Bảo vệ danh Chúa, chứng ngôn của Chúa, và công trình của Chúa.
3. Tiền bạc, vật chất, và mọi tài sản trong nhà Chúa là những của lễ nên được dâng kính bởi con người. Những của lễ này không thể được thụ hưởng bởi ai khác ngoài thầy tế lễ và Đức Chúa Trời, vì những của lễ của con người là để Đức Chúa Trời thụ hưởng. Đức Chúa Trời chỉ chia sẻ những của lễ này với thầy tế lễ; không ai khác đủ tư cách hay được phép hưởng thụ bất cứ phần nào trong đó. Tất cả của lễ của con người (bao gồm tiền bạc và vật chất có thể hưởng thụ được) được dâng lên cho Đức Chúa Trời, chứ không phải cho con người, và vì thế những thứ này không nên được hưởng thụ bởi con người; nếu con người hưởng thụ chúng, thì khi đó họ đang đánh cắp các của lễ. Bất kỳ ai làm điều này đều là Giu-đa, vì ngoài việc là một kẻ phản bội, Giu-da còn tự lấy những thứ trong túi tiền cho bản thân.
4. Con người có tâm tính bại hoại và hơn nữa còn bị cảm xúc chi phối. Vì thế, tuyệt đối nghiêm cấm hai thành viên khác giới làm việc cùng nhau mà không có ai đi kèm khi phụng sự Đức Chúa Trời. Bất kỳ ai bị phát hiện làm như vậy sẽ bị khai trừ, không có ngoại lệ.
5. Không được phán xét Đức Chúa Trời hay thảo luận bừa bãi những vấn đề liên quan đến Đức Chúa Trời. Làm những việc con người phải làm, và nói những gì con người phải nói, và không được vượt quá những giới hạn hay vi phạm các ranh giới. Coi chừng miệng lưỡi của bản thân và cẩn thận nơi ngươi bước để tránh làm bất cứ việc gì xúc phạm đến tâm tính của Đức Chúa Trời.
6. Làm những điều con người cần phải làm, và thực hiện các nghĩa vụ của mình, làm tròn những trách nhiệm của mình, và giữ vững bổn phận của mình. Khi tin vào Đức Chúa Trời, ngươi nên đóng góp cho công tác của Đức Chúa Trời; nếu không làm vậy thì ngươi không xứng để ăn uống lời Chúa, và không xứng để ở trong nhà Chúa.
7. Trong công việc và những vấn đề của hội thánh, bên cạnh việc vâng phục Đức Chúa Trời, phải tuân theo những hướng dẫn của người được Đức Thánh Linh sử dụng trong mọi việc. Sự vi phạm dù nhỏ nhất cũng không được chấp nhận. Phải tuyệt đối tuân phục, và không được phân tích đúng sai; việc đúng hay sai không liên quan gì đến ngươi. Ngươi chỉ cần quan tâm đến việc hoàn toàn vâng phục.
8. Những người tin vào Đức Chúa Trời nên vâng phục Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài. Không được đề cao hay kính trọng bất kỳ ai; không được xếp Đức Chúa Trời thứ nhất, những người mà ngươi kính trọng thứ hai, và bản thân ngươi thứ ba. Không người nào được giữ vị trí trong lòng ngươi, và ngươi không được xem con người - đặc biệt những ai mà ngươi tôn sùng - ngang hàng với Đức Chúa Trời hay tương đương với Ngài. Điều này là không thể dung thứ với Đức Chúa Trời.
9. Giữ suy nghĩ của mình về công việc của hội thánh. Đặt sang một bên những tiền đồ của xác thịt bản thân, quyết đoán về các vấn đề gia đình, hết lòng dâng mình cho công tác của Đức Chúa Trời, và đưa công tác của Đức Chúa Trời lên hàng đầu và đời sống của chính ngươi hàng thứ hai. Đây là khuôn phép của một thánh hữu.
10. Những người thân không có đức tin (con cái, vợ chồng, anh chị em hay cha mẹ ngươi, v.v.) không nên bị ép buộc vào hội thánh. Nhà của Chúa không thiếu thành viên, và không cần phải tăng số lượng bằng những người không có ích gì. Tất cả những ai không hân hoan tin thì không được dẫn dắt vào hội thánh. Sắc lệnh này dành cho tất cả mọi người. Các ngươi nên kiểm tra, giám sát và nhắc nhở lẫn nhau về vấn đề này; không ai được vi phạm. Kể cả khi những người thân không có đức tin miễn cưỡng bước vào hội thánh, họ không được phát sách hay ban cho một danh mới; những người như vậy không thuộc về nhà Chúa, và sự gia nhập của họ vào hội thánh phải được chặn lại bằng bất cứ giá nào. Nếu rắc rối xảy ra với hội thánh vì sự tấn công của ma quỷ, thì bản thân ngươi sẽ bị trục xuất hoặc bị áp đặt những giới hạn. Nói tóm lại, mọi người đều có trách nhiệm trong vấn đề này, nhưng ngươi không được khinh suất hay dùng nó để trả thù riêng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








