Bao nhiêu thực hành tôn giáo ngươi tuân theo? Bao nhiêu lần ngươi đã nổi loạn chống lại lời Đức Chúa Trời và đi theo con đường của riêng mình? Bao nhiêu lần ngươi đưa lời Đức Chúa Trời vào thực hành vì ngươi thực sự quan tâm đến những trọng trách của Ngài và tìm cách đáp ứng ý muốn của Ngài? Ngươi nên hiểu được lời Đức Chúa Trời và đưa nó vào thực hành cho phù hợp. Hãy nguyên tắc trong mọi hành động và việc làm của mình, dù điều này không có nghĩa là tuân thủ những quy tắc hay miễn cưỡng làm điều gì chỉ để thể hiện; thay vào đó, điều này nghĩa là thực hành lẽ thật và sống theo lời Chúa. Chỉ thực hành như thế này mới làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Bất kỳ lối hành động nào làm hài lòng Đức Chúa Trời thì đều không phải là một quy tắc, mà là thực hành lẽ thật. Một số người rất hay thu hút sự chú ý đến bản thân. Trong sự hiện diện của anh chị em mình, họ có thể nói mình mắc nợ Đức Chúa Trời, nhưng sau lưng, họ không thực hành lẽ thật và hành động hoàn toàn khác. Những người này chẳng phải là những người Pha-ri-si sùng đạo sao? Một người thực sự yêu mến Đức Chúa Trời và sở hữu lẽ thật là một người trung thành với Đức Chúa Trời nhưng không khoe khoang ra bên ngoài như thế. Một người như vậy sẵn sàng thực hành lẽ thật khi những tình huống phát sinh, và không nói hay hành động theo cách đi ngược lại lương tâm họ. Loại người này thể hiện sự khôn ngoan khi những vấn đề phát sinh, và có nguyên tắc trong việc làm của mình bất kể hoàn cảnh nào. Kiểu người này có thể dâng sự phục vụ thật. Có một số người chỉ thường nói lời môi miệng về sự mắc nợ của họ với Đức Chúa Trời; họ thường dành cả ngày cau mày lo lắng, giả vờ tạo dáng và giả vờ đáng thương. Đáng khinh làm sao! Nếu ngươi hỏi họ: “Anh/chị có thể nói tôi nghe anh/chị mắc nợ Đức Chúa Trời như thế nào không?” thì họ sẽ cứng họng. Nếu ngươi trung thành với Đức Chúa Trời, thì đừng đi khắp nơi nói về việc đó; mà thay vào đó, hãy thể hiện sự yêu mến của ngươi dành cho Đức Chúa Trời bằng cách thực hành thực sự, và
cầu nguyện với Ngài bằng một tấm lòng thật. Những kẻ chỉ đối phó với Chúa bằng lời và hời hợt, tất cả đều là những kẻ đạo đức giả! Vài người nói về việc mắc nợ Đức Chúa Trời mỗi khi họ cầu nguyện, và bắt đầu khóc lóc mỗi khi họ cầu nguyện, ngay cả khi không được Đức Thánh Linh cảm thúc. Những người như thế này bị ám ảnh bởi những nghi thức tôn giáo và ý niệm; họ sống theo những nghi thức và ý niệm như vậy, luôn luôn tin rằng những hành động đó làm hài lòng Đức Chúa Trời và rằng Ngài chiếu cố sự ngoan đạo bề ngoài hay những giọt nước mắt buồn đau. Có gì tốt đẹp ở những người ngu ngốc như vậy chứ? Để thể hiện sự khiêm nhường, vài người giả vờ hòa nhã khi nói chuyện trước mặt người khác. Vài người cố tình hạ mình trước mặt người khác, hành xử như những chú cừu không có chút sức mạnh nào. Đây có phải là cung cách thích hợp với dân sự của vương quốc không? Dân sự của vương quốc nên hoạt bát và tự do, chân chất và cởi mở, lương thiện và đáng mến, và sống trong một trạng thái tự do. Họ phải có tính chính trực và phẩm giá và có khả năng đứng ra làm chứng bất cứ nơi đâu họ đến; những người như vậy được yêu mến bởi cả Đức Chúa Trời và con người. Những ai là người mới trong đức tin có quá nhiều sự thực hành bề ngoài; trước tiên họ phải trải qua một giai đoạn được xử lý và bị phá vỡ. Những người có đức tin vào Đức Chúa Trời ở trong sâu thẳm thì không thể phân biệt được với những người khác ở bề ngoài, nhưng những hành động và việc làm của họ thì đáng khen ngợi. Chỉ những người như vậy mới được coi là sống thể hiện ra lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi giảng Phúc Âm mỗi ngày cho những người khác nhau trong nỗ lực đem họ đến sự cứu rỗi, nhưng cuối cùng vẫn đang sống theo các quy tắc và giáo lý, thì ngươi không thể đem lại vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Những người như vậy là những nhân vật tôn giáo, cũng như là những kẻ đạo đức giả.
Hiển thị các bài đăng có nhãn phúc âm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phúc âm. Hiển thị tất cả bài đăng
2020-05-18
2020-05-10
Xét về Kinh Thánh (3)
Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều là một bản ghi chép về những lời Đức Chúa Trời đã đích thân phán dạy. Kinh Thánh chỉ đơn giản ghi lại hai giai đoạn trước của công tác Đức Chúa Trời, một phần là bản ghi chép về những lời tiên báo của các tiên tri, còn một phần là những kinh nghiệm và kiến thức được viết bởi những người được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại. Những kinh nghiệm của con người bị vấy bẩn bởi những quan điểm và kiến thức của con người, đó là điều không thể tránh khỏi. Trong nhiều sách của Kinh Thánh có chứa những ý niệm của con người, những thành kiến của con người, và những nhận thức phi lý của con người. Tất nhiên, hầu hết những lời đều là kết quả của sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh, và chúng là những hiểu biết chính xác - nhưng vẫn không thể nói rằng chúng là những sự bày tỏ hoàn toàn chính xác về lẽ thật. Những quan điểm của họ về những điều cụ thể không gì khác hơn là kiến thức từ kinh nghiệm cá nhân, hoặc sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Việc tiên báo của các tiên tri đã được Đức Chúa Trời đích thân chỉ dẫn: Những lời tiên tri tương tự như của Ê-sai, Đa-ni-ên, E-xơ-ra, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên xuất phát từ sự chỉ dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh, những người này là những nhà tiên kiến, họ đã nhận được Thần tiên tri, tất cả họ đều là các tiên tri của Cựu Ước. Trong Thời đại Luật pháp, những người này là những người đã nhận được sự soi dẫn của Đức Giê-hô-va, đã nói nhiều lời tiên tri được Đức Giê-hô-va trực tiếp chỉ dẫn. Và tại sao Đức Giê-hô-va đã làm việc qua họ? Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là dân sự được Chúa chọn, và công tác của các tiên tri phải được thực hiện giữa họ; đó là lí do tại sao các tiên tri có thể nhận được những sự mặc khải như thế. Thực ra, chính họ đã không hiểu những sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho họ. Đức Thánh Linh đã phán những lời đó qua miệng của họ hầu cho những người trong tương lai có thể thấu hiểu được những điều đó, và thấy rằng chúng thực sự là công tác của Thần của Đức Chúa Trời, của Đức Thánh Linh, chứ không đến từ con người, và để ban cho họ sự quả quyết về công tác của Đức Thánh Linh. Trong Thời đại Ân điển, chính Jêsus đã làm tất cả công tác này thay cho họ, và vì vậy mọi người không còn nói tiên tri nữa. Vậy Jêsus có phải là một tiên tri không? Dĩ nhiên, Jêsus là một tiên tri, nhưng Ngài cũng có thể làm công tác của các sứ đồ: Ngài có thể vừa nói tiên tri vừa rao giảng và dạy bảo mọi người trên khắp vùng đất. Tuy nhiên, công tác Ngài đã làm và danh tính mà Ngài đại diện là khác. Ngài đã đến để cứu chuộc toàn nhân loại, để cứu chuộc con người khỏi tội lỗi; Ngài là một tiên tri và là một sứ đồ, nhưng hơn thế nữa, Ngài là Đấng Christ. Một tiên tri có thể nói tiên tri, nhưng không thể nói rằng người là Đấng Christ. Vào lúc đó, Jêsus đã phán nhiều lời tiên tri, và vì vậy có thể nói rằng Ngài là một tiên tri, nhưng không thể nói rằng vì Ngài là một tiên tri nên không phải là Đấng Christ. Đó là bởi vì Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời trong việc thực hiện một giai đoạn công tác, và danh tính của Ngài khác với của Ê-sai: Ngài đã đến để hoàn tất công tác cứu chuộc, Ngài cũng đã cung cấp sự sống cho con người, và Thần của Đức Chúa Trời đã đến với Ngài một cách trực tiếp. Trong công tác Ngài đã làm, không có sự soi dẫn nào từ Thần của Đức Chúa Trời hoặc những chỉ dẫn từ Đức Giê-hô-va. Thay vào đó, Thần đã làm việc trực tiếp - điều đó đủ để chứng tỏ rằng Jêsus không giống như một nhà tiên tri. Công tác Ngài đã làm là công tác cứu chuộc, đứng thứ hai tiếp sau đó mới là việc nói tiên tri. Ngài là một tiên tri, một sứ đồ, và hơn thế nữa Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Trong khi đó, những người tiên báo chỉ có thể nói tiên tri, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời để làm bất kỳ công tác nào khác. Bởi vì Jêsus đã làm nhiều việc mà trước đây chưa từng được con người thực hiện và đã làm công tác cứu chuộc nhân loại, do đó Ngài khác với những người như Ê-sai. Việc một số người không chấp nhận dòng chảy của ngày nay là vì điều này đã tạo ra một trở ngại cho họ. Họ nói: “Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri cũng đã phán nhiều lời - vậy tại sao họ không phải là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt? Đức Chúa Trời của ngày nay phán lời - điều đó có đủ để chứng minh rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể không? Bạn không tôn trọng Kinh Thánh, bạn cũng không nghiên cứu nó - vậy bạn có cơ sở nào để nói rằng Ngài là sự nhập thể của Đức Chúa Trời? Bạn nói rằng họ được Đức Thánh Linh chỉ dẫn, và bạn tin rằng giai đoạn công tác này là công tác do Đức Chúa Trời đích thân thực hiện - nhưng cơ sở của bạn cho điều này là gì? Bạn dồn sự tập trung vào những lời của Đức Chúa Trời ngày nay, trông như thể bạn đã phủ nhận Kinh Thánh, và đặt nó sang một bên”. Và vì vậy họ nói rằng ngươi tin vào tà giáo và dị giáo.
2020-05-07
Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)
Giăng đã làm việc bảy năm cho Jêsus, và đã dọn đường khi Jêsus đến. Trước đó, Phúc Âm về vương quốc thiên đàng do Giăng rao giảng đã được nghe thấy khắp vùng, hầu cho nó lan rộng khắp Giu-đê, và mọi người gọi Giăng là một tiên tri. Vào lúc đó, Vua Hê-rốt muốn giết Giăng, nhưng lại không dám, vì dân chúng rất kính trọng Giăng, và Hê-rốt sợ rằng nếu vua giết Giăng thì họ sẽ nổi dậy chống lại vua. Công tác được Giăng thực hiện đã bén rễ giữa những người bình thường, và người đã tạo nên những tín đồ người Do Thái. Trong bảy năm, người đã dọn đường cho Jêsus, cho đến khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài. Và vì vậy, Giăng là người vĩ đại nhất trong tất cả các tiên tri. Jêsus chỉ bắt đầu công tác chính thức của Ngài sau khi Giăng bị cầm tù. Trước Giăng, chưa từng có một tiên tri nào dọn đường cho Đức Chúa Trời, bởi vì trước Jêsus, Đức Chúa Trời chưa bao giờ trở nên xác thịt trước đó. Và vì vậy, trong số tất cả các tiên tri cho đến Giăng, người là tiên tri duy nhất dọn đường cho Đức Chúa Trời nhập thể, và bằng cách này Giăng đã trở thành tiên tri vĩ đại nhất của Cựu và Tân Ước. Giăng đã bắt đầu rao truyền Phúc Âm của vương quốc thiên đàng bảy năm trước khi Jêsus nhận phép báp-têm. Đối với mọi người, công tác người đã làm dường như vượt trên công tác tiếp sau đó của Jêsus, tuy nhiên, người vẫn chỉ là một tiên tri mà thôi. Người đã làm việc và phán dạy không phải bên trong đền thờ, mà là ở các thị trấn và làng mạc bên ngoài đền thờ. Tất nhiên, người đã làm điều này giữa dân tộc Do Thái, đặc biệt là những người nghèo khổ. Hiếm khi Giăng tiếp xúc với những người từ giới thượng lưu của xã hội, chỉ rao truyền Phúc Âm giữa những người bình thường tại Giu-đê nhằm chuẩn bị những người phù hợp cho Đức Chúa Jêsus, và chuẩn bị những địa điểm thích hợp để Ngài làm việc. Với một tiên tri như Giăng mở đường, Đức Chúa Jêsus đã có thể bắt đầu ngay con đường thập tự giá của Ngài ngay khi Ngài đến. Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, Ngài đã không phải làm công tác chọn người, và không cần phải đích thân tìm người hay địa điểm để làm việc. Ngài đã không làm những việc như thế khi Ngài đến; người thích hợp đã chuẩn bị cho Ngài trước khi Ngài đến. Giăng đã hoàn thành công tác này trước khi Jêsus bắt đầu công tác của Ngài, vì khi Đức Chúa Trời nhập thể đến để thực hiện công tác của mình, Ngài đã bắt tay làm việc ngay trên những người đã chờ đợi Ngài từ lâu. Jêsus đã đến không phải để thực hiện công tác cải chính của con người. Ngài đã đến chỉ để thực hiện chức vụ mà chính Ngài phải thực hiện, và mọi thứ khác đều không liên quan đến Ngài. Khi Giăng đến, người đã không làm gì khác ngoài việc đưa ra khỏi đền thờ và giữa vòng dân Do Thái một nhóm người chấp nhận Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, để họ có thể trở thành những đối tượng cho công tác của Đức Chúa Jêsus. Giăng đã làm việc trong bảy năm, có nghĩa là người đã rao truyền Phúc Âm trong bảy năm. Trong công tác của mình, Giăng đã không thực hiện nhiều phép lạ, vì công tác của người là dọn đường, đó là công tác chuẩn bị. Tất cả những công tác khác, công tác Jêsus sẽ làm, không liên quan đến người; người đã chỉ yêu cầu con người xưng tội của mình và ăn năn, và làm phép báp-têm cho mọi người, hầu cho họ có thể được cứu rỗi. Mặc dù người đã làm công tác mới và đã mở ra một con đường mà con người chưa từng đi trước đó, nhưng người vẫn chỉ dọn đường cho Jêsus mà thôi. Người chỉ đơn thuần là một tiên tri đã làm công tác chuẩn bị, và không có khả năng làm công tác của Jêsus. Mặc dù Jêsus không phải là người đầu tiên rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, và mặc dù Ngài tiếp tục trên con đường mà Giăng đã mở ra, nhưng vẫn không có ai khác có thể làm công tác của Ngài, và nó vượt lên trên công tác của Giăng. Jêsus đã không thể chuẩn bị con đường riêng của Ngài; công tác của Ngài đã được thực hiện trực tiếp nhân danh Đức Chúa Trời. Và vì vậy, cho dù Giăng đã làm việc bao nhiêu năm thì người vẫn là một tiên tri, và vẫn là một người dọn đường. Ba năm công tác do Jêsus thực hiện đã vượt qua bảy năm công tác của Giăng, vì thực chất công tác của Ngài không giống như của Giăng. Khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, đó cũng là lúc công tác của Giăng kết thúc, Giăng đã chuẩn bị đủ người và địa điểm cho Đức Chúa Jêsus sử dụng, và chúng đã đủ cho Đức Chúa Jêsus bắt đầu ba năm công tác. Và vì vậy, ngay khi công tác của Giăng kết thúc, Đức Chúa Jêsus đã chính thức bắt đầu công tác của riêng Ngài, và những lời Giăng đã nói bị gạt sang một bên. Đó là do công tác mà Giăng thực hiện chỉ nhằm mục đích chuyển tiếp, và những lời nói của người không phải là những lời của sự sống sẽ đưa con người đến sự tăng trưởng mới; cuối cùng, những lời nói của người chỉ có ích lợi tạm thời mà thôi.
2020-04-23
Tội trọng sẽ dẫn con người xuống địa ngục
Ta đã cho các ngươi nhiều lời cảnh cáo và ban cho các ngươi nhiều lẽ thật nhằm chinh phục các ngươi. Giờ đây, tất cả các ngươi đều cảm thấy mình đã tiến bộ hơn đáng kể so với trước đây, bắt đầu hiểu được nhiều nguyên tắc làm người, và bắt đầu sở hữu nhiều lẽ thường mà con người trung tín nên có. Tất cả những điều này là sự thu hoạch mà các ngươi đã gặt hái được trong suốt nhiều năm. Ta không phủ nhận những thành tựu của các ngươi, nhưng Ta cũng phải nói rất thẳng thắn rằng Ta cũng không phủ nhận vô số sự bất tuân và nổi loạn mà các ngươi đã phạm với Ta trong nhiều năm qua, bởi không một ai là thánh đồ trong số các ngươi. Các ngươi, không có ngoại lệ, là những kẻ đã bị Sa-tan làm cho bại hoại; các ngươi là những kẻ thù của Đấng Christ. Cho đến nay, những tội trọng và sự bất tuân của các ngươi nhiều vô số kể, vì thế hầu như không có gì là lạ khi Ta liên tục lặp lại lời Ta với các ngươi. Ta cũng không mong muốn cùng tồn tại với các ngươi theo cách này - nhưng vì tương lai của các ngươi, vì đích đến của các ngươi, Ta sẽ, tại đây và lúc này, lặplại một lần nữa những điều Ta đã phán. Ta hy vọng các ngươi sẽ chiều lòng Ta và, hơn nữa, các ngươi sẽ có thể tin mọi lời phán của Ta và suy ra những hàm ý sâu sa trong lời Ta. Đừng nghi ngờ những gì Ta phán, đừng nắm bắt lời Ta tùy thích rồi quăng chúng sang một bên tùy ý; đây là điều Ta không thể chịu nổi. Đừng phán xét lời Ta, và càng không nên xem nhẹ chúng hoặc nói rằng Ta luôn luôn thử các ngươi, hoặc tệ hơn, rằng những điều Ta đã phán cùng các ngươi là không chính xác. Đây cũng là những điều Ta không thể chịu nổi. Bởi vì các ngươi đối xử với Ta và những gì Ta phán với sự nghi ngờ như thế, không bao giờ nhận lãnh lời Ta và phớt lờ Ta, nên Ta phán với từng người các ngươi một cách nghiêm túc nhất: Đừng liên tưởng những điều Ta phán với triết học; đừng liên tưởng lời Ta với những lời dối trá của những kẻ bịp bợm. Các ngươi càng không nên đáp lại lời Ta với sự khinh miệt. Có lẽ trong tương lai, không ai sẽ có thể nói với các ngươi những điều Ta đang phán cùng các ngươi, hoặc nói với ngươi như thế này một cách tử tế, hoặc càng không thể giải thích cho các ngươi về những điểm này một cách kiên nhẫn như vậy. Các ngươi sẽ trải qua những ngày sắp tới hồi tưởng lại những khoảng thời gian tốt đẹp, hoặc khóc nức nở hoặc rên rỉ trong đau đớn, hoặc các ngươi sẽ trải qua những đêm tối mà không được ban cho một chút lẽ thật hoặc sự sống nào, hoặc chỉ chờ đợi một cách vô vọng, hoặc sống trong sự hối tiếc cay đắng đến nỗi các ngươi mất hết lý trí … Hầu như không ai trong các ngươi có thể tránh khỏi những điều có thể xảy ra này. Bởi vì không ai trong các ngươi giữ ghế mà từ đó các ngươi thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng lại đắm mình trong thế giới đầy sự dâm loạn và xấu xa, trộn lẫn trong niềm tin của các ngươi, trong tinh thần, linh hồn và thể xác của các ngươi, rất nhiều thứ không liên quan đến sự sống và lẽ thật và những thứ trên thực tế còn đi ngược lại chúng. Do đó, điều mà Ta hy vọng cho các ngươi là các ngươi có thể được đưa đến con đường của sự sáng. Hy vọng duy nhất của Ta là các ngươi có thể trở nên có khả năng lo cho bản thân mình, chăm sóc cho bản thân mình, và không quá chú trọng vào đích đến của các ngươi trong khi thờ ơ với hành vi và các tội trọng của mình.
Trong một thời gian dài, tất cả những người tin vào Chúa đều tha thiết hy vọng về một đích đến tốt đẹp, và tất cả các tín đồ của Chúa đều hy vọng rằng vận may sẽ bất ngờ đến với họ. Tất cả họ đều hy vọng rằng trước khi họ nhận ra, họ sẽ thấy mình an tọa ở nơi này hoặc nơi kia trên thiên đàng. Nhưng Ta phán rằng những người này, với những suy nghĩ dễ mến của họ, chưa bao giờ biết được liệu họ có đủ tư cách để nhận được những vận may như thế từ trên trời rơi xuống hoặc thậm chí có được tọa lạc trên đó hay không. Hiện tại, các ngươi hiểu rõ bản thân mình, nhưng các ngươi vẫn hy vọng thoát khỏi những thảm họa của những ngày sau rốt và bàn tay của Đấng Toàn Năng khi Ngài hành phạt những kẻ ác. Có vẻ như việc có những giấc mơ ngọt ngào và muốn một cuộc sống thoải mái là một đặc điểm chung của tất cả những người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, và không phải là ý tưởng thiên tài của bất kỳ cá nhân đơn lẻ nào. Mặc dù vậy, Ta vẫn muốn chấm dứt những ham muốn ngông cuồng này của các ngươi, cũng như sự háo hức có được phước lành của các ngươi. Trong khi tội trọng của các ngươi quá nhiều, và thực tế là sự dấy loạn của các ngươi ngày càng leo thang, thì làm sao những điều này phù hợp với những kế hoạch đẹp đẽ cho tương lai của các ngươi? Nếu ngươi muốn tiếp tục theo ý mình, vẫn cứ sai trật mà không có gì kìm ngươi lại, nhưng đồng thời ngươi vẫn muốn các giấc mơ của mình trở thành sự thật, thì ta khuyên ngươi cứ tiếp tục ở trong tình trạng mê muội của mình và đừng bao giờ tỉnh thức - bởi giấc mơ của ngươi là một giấc mơ trống rỗng và trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời công chính, Ngài sẽ không có ngoại lệ với ngươi. Nếu ngươi đơn giản chỉ muốn những giấc mơ của mình trở thành sự thật, thì đừng bao giờ mơ; mà thay vào đó, hãy mãi luôn đối mặt với lẽ thật và sự thật. Đây là cách duy nhất để ngươi có thể được cứu rỗi. Các bước cụ thể của phương pháp này là gì?
Trước tiên, hãy xem xét tất cả các tội trọng của ngươi, và tra xét bất kỳ hành vi và ý nghĩ nào của ngươi mà không phù hợp với lẽ thật.
Đây là điều mà ngươi có thể làm một cách dễ dàng, và Ta tin rằng tất cả những người thông minh đều có thể làm được điều này. Tuy nhiên, những ai chưa từng biết tội trọng và lẽ thật nghĩa là gì thì ngoại lệ, bởi vì căn bản, họ không phải là những người thông minh. Ta đang phán với những người đã được Đức Chúa Trời chấp thuận, trung thực, không vi phạm nghiêm trọng sắc lệnh quản trị nào, và có thể dễ dàng nhận ra các tội trọng của mình. Mặc dù đây là một điều Ta yêu cầu các ngươi, và là điều các ngươi dễ dàng đạt được, nhưng nó không phải là điều duy nhất Ta yêu cầu các ngươi. Dẫu sao, Ta hy vọng rằng các ngươi không cười nhạo riêng với nhau về yêu cầu này, và đặc biệt là các ngươi không được khinh thường hoặc xem nhẹ nó. Các ngươi nên coi trọng nó, và không gạt bỏ nó.
Thứ hai, đối với từng tội trọng và sự bất tuân của mình, ngươi nên tìm kiếm một lẽ thật tương ứng, rồi sử dụng những lẽ thật này để giải quyết những vấn đề đó. Sau đó, hãy thay thế những hành vi phạm tội cùng những suy nghĩ và hành động bất tuân của ngươi bằng việc thực hành lẽ thật.
Thứ ba, ngươi phải là một người trung thực, chứ không phải là người luôn luôn khôn lanh và thường xuyên dối trá. (Ở đây Ta đang yêu cầu các ngươi một lần nữa hãy là một người trung thực.)
Nếu ngươi có thể làm được cả ba điều này, thì ngươi là một trong những người may mắn - một người có những giấc mơ trở thành hiện thực và nhận được điều may mắn. Có thể các ngươi sẽ coi trọng ba yêu cầu không hấp dẫn này, hoặc là các ngươi sẽ đối với chúng một cách vô trách nhiệm. Dù là trường hợp nào, mục đích của Ta là thực hiện những giấc mơ của các ngươi và đưa những lý tưởng của các ngươi vào thực hành, không chế nhạo hoặc đánh lừa các ngươi.
Các yêu cầu của Ta có thể đơn giản, nhưng điều Ta đang phán với các ngươi không đơn giản như một cộng một bằng hai. Nếu tất cả những gì các ngươi làm là nói về điều này một cách thờ ơ, hoặc nói huyên thuyên những lời trống rỗng, khoa trương, thì các kế hoạch và mong muốn của các ngươi sẽ mãi mãi chỉ là một trang giấy trắng. Ta sẽ không có cảm giác thương hại nào cho những ai trong các ngươi đã chịu đựng rất nhiều năm và làm việc rất chăm chỉ, nhưng không có gì để thể hiện điều đó. Ngược lại, Ta sẽ đối xử với những ai chưa đáp ứng những yêu cầu của Ta bằng sự hành phạt, không phải phần thưởng, càng không có chút cảm thông nào. Các ngươi có thể tưởng tượng rằng, sau khi đã là người đi theo trong rất nhiều năm, các ngươi đã làm chăm chỉ bất kể việc gì, và các người nên được ban cho một bát cơm trong nhà của Đức Chúa Trời chỉ vì là một kẻ phục vụ. Ta sẽ phán rằng hầu hết các ngươi đều nghĩ theo cách này, bởi các ngươi đã luôn theo đuổi nguyên tắc làm thế nào để lợi dụng mọi thứ và không để bị lợi dụng. Do đó, giờ đây Ta đang phán với các ngươi một cách nghiêm túc nhất: Ta không quan tâm công việc chăm chỉ của ngươi đáng khen thế nào, phẩm chất của ngươi ấn tượng ra sao, ngươi theo sát Ta thế nào, ngươi nổi tiếng như thế nào, hoặc ngươi đã cải thiện thái độ của mình bao nhiêu; chừng nào mà ngươi còn chưa đáp ứng những yêu cầu của Ta, thì ngươi sẽ không bao giờ được Ta khen ngợi. Hãy xóa bỏ tất cả những ý tưởng và sự tính toán của các ngươi càng sớm càng tốt, và bắt đầu xem trọng những yêu cầu của Ta; nếu không, Ta sẽ biến mọi người thành tro để kết thúc công tác của Ta và, cùng lắm là biến những năm công tác và đau khổ của Ta thành con số không, bởi Ta không thể đem kẻ thù của Ta và những kẻ sặc mùi xấu xa và sự hiện diện của Sa-tan vào trong vương quốc của Ta hoặc đem họ vào trong thời đại kế tiếp.
Ta có rất nhiều hy vọng. Ta hy vọng các ngươi có thể cư xử một cách đúng đắn và đúng mực; hoàn thành bổn phận của mình một cách trung tín, có được lẽ thật và nhân tính, là những người có thể từ bỏ mọi thứ mình có và thậm chí sự sống mình cho Đức Chúa Trời, v.v...Tất cả những hy vọng này bắt nguồn từ những khiếm khuyết của các ngươi cùng sự bại hoại và bất tuân của các ngươi. Nếu không có cuộc nói chuyện nào giữa Ta và các ngươi đủ để thu hút sự chú ý của các ngươi, thì khả năng là tất cả những gì Ta có thể làm là không nói gì nữa. Tuy nhiên, các ngươi hiểu kết quả của việc đó sẽ như thế nào. Ta không bao giờ nghỉ ngơi, vì vậy nếu Ta không nói, thì Ta sẽ làm một việc gì đó để con người nhìn vào. Ta có thể khiến lưỡi của ai đó lở loét, hoặc khiến ai đó chết không toàn thây, hoặc làm cho con người có thần kinh bất bình thường và khiến họ trông gớm ghiếc bằng rất nhiều cách. Lại nữa, Ta có thể khiến con người phải chịu đau khổ mà Ta đã chuẩn bị dành riêng cho họ. Bằng cách này Ta sẽ cảm thấy vui, rất sung sướng và vô cùng hài lòng. Trong quá khứ, luôn luôn là “Ở hiện gặp lành, và ác giả ác báo”, vậy thì tại sao không phải trong hiện tại. Nếu ngươi muốn chống đối Ta, và đưa ra một số phán xét về Ta, thì Ta sẽ làm cho miệng ngươi lở loét, và điều đó sẽ làm ta thích thú vô cùng. Đó là vì cuối cùng, những gì ngươi đã làm không phải lẽ thật, nó càng không liên quan gì đến sự sống, trong khi mọi thứ Ta làm đều là lẽ thật; tất cả các hành động của Ta đều liên quan đến các nguyên tắc trong công tác của Ta và các sắc lệnh quản trị mà Ta đã đặt ra. Do đó, Ta thúc giục mỗi người trong các ngươi tích một số đức, thôi không phạm quá nhiều tội ác, và chú ý đến những yêu cầu của Ta trong thời gian rảnh rỗi. Khi đó, Ta sẽ cảm thấy vui mừng. Nếu các ngươi đóng góp (hoặc dâng hiến) cho lẽ thật thậm chí chỉ bằng một phần nghìn công sức mà các ngươi đã bỏ ra cho xác thịt, thì Ta phán ngươi sẽ không thường xuyên phạm tội trọng và không bị loét miệng. Chẳng phải điều này hiển nhiên sao?
Ngươi càng phạm nhiều tội trọng, ngươi sẽ càng có ít cơ hội hơn để đạt được một đích đến tốt đẹp. Ngược lại, ngươi càng ít phạm tội trọng, ngươi càng có nhiều cơ hội được Đức Chúa Trời khen ngợi. Nếu tội trọng của ngươi gia tăng đến mức Ta không thể tha thứ cho ngươi, thì ngươi sẽ hoàn toàn mất đi những cơ hội được tha thứ của mình. Và như vậy, đích đến của ngươi sẽ không ở trên cao, mà là ở dưới thấp. Nếu ngươi không tin Ta, thì cứ mạnh dạn và làm sai, rồi hãy xem ngươi bị những gì. Nếu ngươi là một người sốt sắng thực hành lẽ thật, thì chắc chắn ngươi sẽ có một cơ hội được tha thứ cho tội trọng của mình, và sự bất tuân của ngươi sẽ giảm dần đi. Nếu ngươi là người không sẵn sàng thực hành lẽ thật, thì những tội trọng của ngươi trước Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ tăng về số lượng và ngươi sẽ ngày càng bất tuân thường xuyên hơn, cho đến khi ngươi chạm đến giới hạn, đó sẽ là thời điểm hủy diệt hoàn toàn của ngươi. Đây sẽ là khi giấc mơ thú vị của ngươi về việc nhận được các phước lành bị hủy hoại. Đừng coi những tội trọng của ngươi như những sai lầm đơn thuần của một người chưa trưởng thành hoặc ngu dại; đừng viện lý do rằng ngươi đã không thực hành lẽ thật bởi vì phẩm chất kém của ngươi đã khiến cho việc đó bất khả thi. Hơn nữa, đừng chỉ coi các tội trọng mà ngươi đã phạm như những hành động của một người không biết điều gì tốt hơn. Nếu ngươi giỏi tha thứ và đối xử rộng lượng với bản thân, thì Ta phán rằng ngươi là một kẻ hèn nhát, kẻ sẽ không bao giờ có được lẽ thật, và những tội trọng của ngươi cũng sẽ không khi nào ngừng ám ảnh ngươi; chúng sẽ ngăn ngươi đáp ứng được các yêu cầu của lẽ thật và khiến ngươi mãi mãi vẫn là một bạn đồng hành trung thành của Sa-tan. Ta vẫn khuyên ngươi điều này: Đừng chỉ chú ý đến đích đến của ngươi trong khi không để ý đến các tội trọng giấu kín của ngươi; hãy xem xét các tội trọng một cách nghiêm túc, và đừng bỏ qua bất kỳ tội trọng nào chỉ vì quan tâm đến đích đến của mình.
Nguồn bài viết : PHÚC ÂM VỀ SỰ HIỆN XUỐNG CỦA VƯƠNG QUỐC
Giới thiệu:
Giới thiệu:
Làm sao mới có thể đạt được đạo sự sống đời đời? Đọc lời của Chúa, nói với bạn đáp án.
Tấu nói Phúc ÂmTin Lành | Tin vào Con thì được sự sống đời đời
Tấu nói Phúc Âm Tin Lành | Tin vào Con thì được sự sống đời đời Kinh Thánh có viết: “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (Giăng 3:36). Tô Duyệt nghĩ rằng tin vào Đức Chúa Jêsus là tin vào Đức Con và có thể đạt được sự sống đời đời. Khi người chị em Tiểu Linh nói rằng nhận định của cô chỉ mới trọn vẹn nửa phần, Tô Duyệt rất hoang mang , và bắt đầu thảo luận với Tiểu Linh… Vậy, niềm tin đích thực vào Đức Con là gì? “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời” nói đến điều gì?
2020-04-21
Ba điều răn
Là một người tin vào Đức Chúa Trời, ngươi nên trung thành với không ai khác ngoài Ngài trong mọi việc, và có thể tuân theo ý Ngài trong mọi việc. Tuy nhiên, mặc dù mọi người đều hiểu thông điệp này, nhưng bởi những khó khăn vụn vặt của con người - bởi sự vô minh, ngu ngốc và bại hoại của họ chẳng hạn - những lẽ thật này, rõ ràng và cơ bản nhất trong tất cả, lại không được hoàn toàn thấu rõ trong họ, và vì thế, trước khi kết cuộc của các ngươi trở nên không thể thay đổi, ta trước tiên phải nói với các ngươi một vài điều có tầm quan trọng tột bậc đối với các ngươi. Trước khi ta tiếp tục, các ngươi trước tiên phải hiểu điều này: Những lời ta nói là sự thật hướng đến toàn thể nhân loại; không phải dành riêng cho một cá nhân hay một kiểu người cụ thể. Do đó, các ngươi phải tập trung vào việc hiểu lời của Ta từ góc độ của sự thật, và phải có thái độ tập trung và thành thật hoàn toàn; không được bỏ qua dù chỉ một từ hay một sự thật mà ta nói, và không được xem nhẹ tất cả những lời ta nói. Trong cuộc sống của các ngươi, ta thấy các ngươi đã làm nhiều việc không phù hợp với lẽ thật, và vì vậy ta đặc biệt yêu cầu các ngươi phải trở thànhtôi tớ cho lẽ thật, rằng các ngươi không được làm nô lệ cho cái ác và cái xấu, và rằng các ngươi không được chà đạp lên lẽ thật hay làm ô uế bất kỳ góc nào của nhà Chúa. Đây là lời răn của Ta dành cho các ngươi. Bây giờ ta sẽ nói về chủ đề đang bàn.
2020-04-20
Về đích đến
Hội
Thánh Đức
Chúa Trời
Toàn Năng
| Đức
Chúa Trời
phán:″Về đích đến″
Mỗi khi đích đến được đề cập, các ngươi đều xem xét nó đặc biệt nghiêm túc; tất cả các ngươi đặc biệt nhạy bén về vấn đề này. Vài người quá háo hức muốn khấu đầu trước Đức Chúa Trời để kết thúc với một đích đến tốt đẹp. Ta có thể đồng cảm với sự háo hức của các ngươi, một sự háo hức không cần phải diễn đạt bằng lời. Chắc chắn các ngươi không muốn xác thịt mình rơi vào thảm họa, và hơn nữa, các ngươi chẳng muốn rơi vào hình phạt đời đời trong tương lai. Các ngươi chỉ hy vọng sống tự do và thoải mái hơn. Thế nên các ngươi đặc biệt lo lắng mỗi khi đích đến được nhắc đến, vô cùng lo sợ rằng nếu không chú tâm đúng mức, các ngươi có thể xúc phạm Đức Chúa Trời và phải chịu hình phạt thích đáng. Các ngươi đã không ngần ngại thỏa hiệp vì đích đến của mình, và nhiều người trong các ngươi từng một thời ranh ma và xấc xược đột nhiên lại trở nên đặc biệt hòa nhã và chân thành; sự chân thành của các ngươi còn đáng ớn lạnh hơn. Dù vậy, các ngươi đều có tấm lòng “chân thật”, và từ đầu cho đến cuối, các ngươi đã mở lòng với Ta mà không giấu giếm bất kỳ bí mật nào trong lòng, dù là sự trách móc, dối trá, hay sùng kính. Nói chung, các ngươi đều thẳng thắn “thú nhận” với Ta những điều cốt yếu trong cõi lòng thâm sâu nhất của các ngươi. Dĩ nhiên, Ta chẳng bao giờ tránh những thứ này, vì chúng đã trở nên bình thường đối với Ta. Các ngươi thà đi vào biển lửa vì đích đến cuối cùng của mình hơn là mất một cọng tóc lẻ để được Đức Chúa Trời chấp thuận. Không phải Ta quá giáo điều với các ngươi, mà chính lòng sùng kính của các ngươi đặc biệt không tương xứng để đối mặt với mọi việc Ta làm. Có lẽ các ngươi không hiểu ý của Ta, thế nên Ta cho các ngươi một lời giải thích đơn giản: Cái các ngươi cần không phải là lẽ thật và sự sống, không phải là những nguyên tắc để chấn chỉnh bản thân, và nhất là nó chẳng phải là công tác khổ nhọc của Ta đâu. Cái các ngươi cần là tất cả những gì các ngươi sở hữu nơi xác thịt - tiền tài, địa vị, gia đình, hôn nhân, v.v. Các ngươi hoàn toàn gạt bỏ lời nói và việc làm của Ta, thế nên Ta có thể tóm gọn đức tin của các ngươi trong một từ: nửa vời. Các ngươi sẽ làm bất kỳ điều gì để đạt được những điều mà các ngươi hết lòng tận tâm, nhưng Ta đã khám phá ra rằng các ngươi chẳng coi thường mọi sự vì những điều liên quan đến niềm tin của các ngươi vào Đức Chúa Trời. Thay vào đó, các ngươi chỉ trung thành tương đối, và nghiêm túc tương đối. Vì thế mà Ta nói rằng những kẻ thiếu một tấm lòng tuyệt đối chân thành là những kẻ thất bại trong việc tin vào Đức Chúa Trời. Hãy suy nghĩ cho cẩn thận - trong số các ngươi có nhiều kẻ thất bại không nào?
2020-04-15
Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4)
Các ngươi nên biết về câu chuyện đằng sau Kinh Thánh và về sự hình thành của nó. Kiến thức này không thuộc về những ai chưa chấp nhận công tác mới của Đức Chúa Trời. Họ không biết. Nếu ngươi phải nói thẳng thắn về những vấn đề thuộc bản chất này với họ, họ sẽ không còn là người câu nệ về Kinh Thánh với ngươi nữa. Họ đang liên tục đào sâu vào những gì đã được nói tiên tri: Tuyên bố này đã xảy ra chưa? Tuyên bố kia đã xảy ra chưa? Việc chấp nhận Phúc Âm của họ là theo Kinh Thánh; và họ rao giảng Phúc Âm theo Kinh Thánh. Niềm tin của họ vào Đức Chúa Trời dựa vào những lời trong Kinh Thánh; nếu không có Kinh Thánh, họ sẽ không tin vào Đức Chúa Trời. Đây là cách thức mà qua đó họ sống, đưa Kinh Thánh vào sự soi xét nhỏ nhặt. Khi họ một lần nữa đào sâu vào Kinh Thánh và yêu cầu ngươi giải thích, ngươi nói: “Trước tiên, chúng ta đừng xác minh từng lời tuyên bố. Thay vào đó, chúng ta hãy nhìn vào cách Đức Thánh Linh hành động. Chúng ta hãy lấy con đường mình đi và so sánh nó với lẽ thật để xem liệu con đường này có phù hợp với công tác của Đức Thánh Linh hay không, và dùng công tác của Đức Thánh Linh để kiểm tra xem liệu con đường như thế có đúng đắn hay không. Về việc tuyên bố này hoặc tuyên bố kia đã xảy ra như được tiên báo hay chưa, con người chúng ta không nên xía mũi vào việc đó. Thay vào đó, tốt hơn là chúng ta nên nói về công tác của Đức Thánh Linh và công tác mới nhất mà Đức Chúa Trời đã và đang làm”. Những lời tiên tri trong Kinh Thánh là những lời của Đức Chúa Trời được truyền lại vào thời đó bởi các tiên tri và những lời được viết ra bởi những người mà Đức Chúa Trời sử dụng sau khi đã đạt được sự linh hứng; chỉ chính Đức Chúa Trời mới có thể giải thích được những lời đó, chỉ Đức Thánh Linh mới có thể cho biết ý nghĩa của những lời đó, và chỉ chính Đức Chúa Trời mới có thể phá vỡ bảy ấn và mở quyển sách. Ngươi nói: “Bạn không phải là Đức Chúa Trời, và tôi cũng vậy, vậy ai dám giải thích những lời của Đức Chúa Trời một cách khinh suất? Bạn có dám giải thích những lời đó không? Ngay cả khi các tiên tri Giê-rê-mi, Giăng và Ê-li có đến, họ cũng sẽ không dám cố thử và giải thích những lời đó, vì họ không phải là Chiên Con. Chỉ Chiên Con mới có thể phá vỡ bảy ấn và mở quyển sách, và không ai khác có thể giải thích lời của Ngài. Tôi không dám choán lấy danh của Đức Chúa Trời, càng không cố gắng giải thích những lời của Đức Chúa Trời. Tôi chỉ có thể là một người vâng lời Chúa mà thôi. Bạn là Đức Chúa Trời sao? Không tạo vật nào của Đức Chúa Trời dám mở quyển sách hoặc giải thích những lời đó, và vì vậy tôi cũng không dám giải thích chúng. Bạn tốt hơn không nên cố gắng giải thích chúng. Không ai nên cố gắng giải thích. Chúng ta hãy nói về công tác của Đức Thánh Linh; bấy nhiêu đây thì con người có thể làm được. Tôi biết chút ít về công tác của Đức Giê-hô-va và Jêsus, nhưng vì tôi không có kinh nghiệm cá nhân nào về công tác đó, tôi chỉ có thể nói về nó ở một mức độ chừng mực. Về ý nghĩa của những lời mà Ê-sai hoặc Jêsus đã phán trong thời đại của họ, tôi sẽ không đưa ra lời giải thích nào. Tôi không học Kinh Thánh; thay vào đó, tôi theo công tác hiện tại của Đức Chúa Trời. Bạn thực sự xem Kinh Thánh như quyển sách nhỏ, nhưng chẳng phải nó là thứ mà chỉ Chiên Con mới có thể mở ra sao? Ngoài Chiên Con, còn ai khác có thể làm như vậy? Bạn không phải là Chiên Con, và tôi thì càng không dám tuyên bố mình chính là Đức Chúa Trời, vậy nên chúng ta đừng phân tích Kinh Thánh hoặc đưa nó ra soi xét nhỏ nhặt. Tốt hơn nhiều nên thảo luận công tác do Đức Thánh Linh thực hiện, nghĩa là công tác hiện tại được chính Đức Chúa Trời thực hiện. Chúng ta hãy xem các nguyên tắc mà qua đó Đức Chúa Trời hành động là gì và bản chất công tác của Ngài là gì, dùng những điều này để xác minh xem liệu con đường chúng ta đi ngày nay có đúng hay không, và theo cách này xác quyết được về điều đó”. Nếu các ngươi muốn rao giảng Phúc Âm, đặc biệt là cho những người trong giới tôn giáo, các ngươi phải hiểu Kinh Thánh và nắm vững câu chuyện bên trong nó; nếu không, sẽ không có cách nào để ngươi rao giảng Phúc Âm. Một khi ngươi đã am tường được bức tranh lớn hơn, và ngừng xem xét những lời đã hết hiệu lực của Kinh Thánh một cách tỉ mẩn, mà chỉ nói về công tác của Đức Chúa Trời và lẽ thật của sự sống, thì ngươi sẽ có thể thu phục được những người tìm kiếm với một tấm lòng chân thật.
2020-04-10
Lẽ thật bên trong của công tác chinh phục (1)
Bị Sa-tan làm cho bại hoại hết sức, nhân loại chẳng biết rằng có một Đức Chúa Trời và đã thôi không thờ phượng Đức Chúa Trời. Từ buổi ban đầu, khi A-đam và Ê-va được tạo ra, vinh quang và lời chứng của Đức Giê-hô-va đã từng hiển hiện. Nhưng con người sau khi bị làm cho bại hoại đã đánh mất vinh quang và lời chứng, bởi ai cũng phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời và hoàn toàn không tôn kính Ngài nữa. Công tác chinh phục của ngày nay là khôi phục lại mọi lời chứng và mọi vinh quang, và khiến hết thảy mọi người thờ phượng Đức Chúa Trời, hầu cho lời chứng hiển hiện giữa tạo vật; đây là công tác cần làm trong giai đoạn này. Nhân loại chính xác là được chinh phục ra sao? Bằng cách dùng công tác lời nói của giai đoạn này để hoàn toàn thuyết phục con người; bằng cách dùng sự vạch trần, phán xét, trừng phạt, và rủa sả không thương xót để đưa họ đến sự quy phục hoàn toàn; bằng cách phơi bày sự phản nghịch của con người và phán xét sự chống đối của họ để họ có thể biết được sự bất chính và ô uế của nhân loại, và như thế dùng những điều này như vậy làm nền cho tâm tính công chính của Đức Chúa Trời. Chủ yếu thông qua những lời này mà con người được chinh phục và thuyết phục hoàn toàn. Lời là phương tiện chinh phục sau cuối đối với nhân loại, và tất cả những ai chấp nhận sự chinh phục của Đức Chúa Trời thì phải chấp nhận sự giày vò và phán xét của lời Ngài. Quá trình phán dạy hôm nay là quá trình chinh phục. Và con người chính xác là nên hợp tác như thế nào? Bằng cách biết ăn và uống những lời này và đạt được sự hiểu biết về chúng. Đối với việc con người được chinh phục như thế nào, đây là điều con người không thể tự mình làm được. Thông qua việc ăn và uống những lời này, tất cả những gì ngươi có thể làm là biết được sự bại hoại và ô uế của ngươi, sự phản nghịch và bất chính của ngươi, và phủ phục trước Đức Chúa Trời. Nếu sau khi nắm bắt được ý muốn của Đức Chúa Trời, ngươi có thể đưa vào thực hành, nếu ngươi có được khải tượng và có thể hoàn toàn vâng phục những lời này, và không tự mình đưa ra bất kỳ chọn lựa nào, thì khi đó ngươi cũng đã được chinh phục - và điều đó sẽ như một kết quả của những lời này. Tại sao nhân loại lại đánh mất lời chứng? Bởi chẳng ai có đức tin vào Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Trời không có chỗ trong lòng con người nữa. Sự chinh phục con người là sự khôi phục đức tin của nhân loại. Người ta luôn muốn lao đầu vào thế giới phàm tục, họ ấp ủ quá nhiều hy vọng, mong muốn quá nhiều cho tương lai của họ, và có quá nhiều những đòi hỏi vô độ. Họ luôn nghĩ về xác thịt, lên kế hoach cho xác thịt, và không hứng thú với việc tìm cách tin vào Chúa. Lòng họ đã bị Sa-tan lấy mất, họ đã mất đi sự tôn kính đối với Đức Chúa Trời, và họ gắn chặt với Sa-tan. Nhưng con người được Đức Chúa Trời tạo dựng. Như thế, con người đã đánh mất lời chứng, nghĩa là họ đã đánh mất vinh quang của Đức Chúa Trời. Mục đích của việc chinh phục nhân loại là để giành lại vinh quang trong sự tôn kính của con người dành cho Đức Chúa Trời. Có thể nói theo cách này: Có nhiều người chẳng theo đuổi sự sống; ngay cả khi một số người quả thật theo đuổi sự sống, thì con số đó chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Người ta chỉ bận tâm đến tương lai của họ và chẳng để ý gì đến sự sống. Một số người phản nghịch và chống lại Đức Chúa Trời, phán xét Ngài sau lưng và không thực hành lẽ thật. Những người này bị bỏ qua lúc này; trong khoảnh khắc này, chẳng có gì để làm với các con trai phản nghịch cả, nhưng trong tương lai, ngươi sẽ sống trong sự tối tăm, khóc than và rên xiết. Ngươi không cảm nhận được sự quý giá của sự sáng khi ngươi sống trong nó, nhưng ngươi sẽ nhận ra sự quý giá ấy một khi ngươi sống trong đêm tối, và khi ấy ngươi sẽ hối tiếc. Bây giờ ngươi thấy ổn, nhưng sẽ có ngày ngươi thấy hối tiếc. Khi ngày đó đến, bóng tối buông xuống và sự sáng không còn nữa, thì hối tiếc sẽ là quá muộn màng. Chính vì ngươi vẫn không hiểu về công việc của hôm nay mà ngươi không trân quý thời gian ngươi có bây giờ. Một khi công tác về toàn vũ trụ bắt đầu, nghĩa là khi mọi điều Ta phán hôm nay đã trở thành sự thật, nhiều người sẽ ôm đầu mà khóc than đau đớn. Và khi làm như thế, chẳng phải họ đã rơi vào bóng tối của sự than khóc và rên xiết sao? Hết thảy những ai thực sự theo đuổi sự sống và được làm cho trọn vẹn thì có thể được sử dụng, trong khi tất cả những con trai phản nghịch không phù hợp để được sử dụng sẽ bị rơi vào bóng tối. Họ sẽ bị mất đi công tác của Đức Thánh Linh, và không có khả năng làm cho điều gì có nghĩa. Như thế họ sẽ nức nở khổ sở, bị đưa vào hình phạt. Nếu ngươi được trang bị tốt trong giai đoạn công tác này, và ngươi đã trưởng thành trong đời sống của mình, thì ngươi phù hợp để được sử dụng. Nếu ngươi được trang bị tồi, thì ngay cả khi ngươi được triệu gọi cho giai đoạn công tác tiếp theo, ngươi cũng sẽ không phù hợp để sử dụng - vào lúc này, cho dù ngươi có muốn trang bị cho mình thì cũng không còn cơ hội. Đức Chúa Trời sẽ rời đi; ngươi tìm ở đâu ra cơ hội như cái đang ở trước mặt ngươi bây giờ? Ngươi có thể đi đâu để nhận lãnh sự sự rèn tập mà Đức Chúa Trời đích thân cung cấp? Khi ấy, Đức Chúa Trời sẽ không đích thân phán dạy hay ban tiếng nói của Ngài; tất cả những gì ngươi sẽ có thể làm là đọc những gì được phán dạy hôm nay - như vậy thì làm sao sự hiểu biết đến được dễ dàng? Làm sao cuộc sống trong tương lai có thể tốt hơn cuộc sống hôm nay? Đến lúc đó, chẳng phải ngươi sẽ chịu một sự sống không bằng chết bởi khóc than rên xiết ư? Những ơn phước đang được ban cho ngươi bây giờ mà ngươi nào biết cách thụ hưởng chúng; ngươi đang sống trong phước hạnh mà vẫn không hay biết. Điều này chứng tỏ rằng ngươi phải chịu đau khổ! Hiện tại, một số người chống đối, một số thì dấy loạn, một số làm điều này điều nọ. Ta chỉ đơn giản là bỏ qua ngươi, nhưng đừng nghĩ rằng Ta không hay biết những gì các ngươi đang làm. Ta không hiểu bản chất của các ngươi sao? Tại sao cứ đối chọi lại Ta? Chẳng phải ngươi tin ở Đức Chúa Trời để theo đuổi sự sống và những ơn phước cho lợi ích của ngươi sao? Chẳng phải chính vì lợi ích của ngươi mà ngươi có đức tin hay sao? Trong khoảnh khắc hiện tại, Ta đang thực hiện công tác chinh phục chỉ bằng cách phán, và một khi công tác chinh phục này đến hồi kết thúc, kết cuộc của ngươi sẽ rõ ràng. Ta có phải nói thẳng thừng với ngươi không?
2020-04-08
Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời
Mặc dù sự quản lý của Đức Chúa Trời là sâu nhiệm, nhưng nó không vượt khỏi tầm hiểu biết của con người. Đó là bởi mọi công tác của Đức Chúa Trời điều liên hệ với sự quản lý và công tác cứu rỗi nhân loại của Ngài, và liên quan đến sự sống, đời sống, và đích đến của nhân loại. Công tác mà Đức Chúa Trời thực hiện giữa con người và trên con người có thể nói là rất thực tế và ý nghĩa. Nó có thể được nhìn thấy và cảm nghiệm bởi con người, và không phải điều gì trừu tượng. Nếu con người không có khả năng chấp nhận mọi công tác mà Đức Chúa Trời làm, thì ý nghĩa công tác của Ngài là gì? Và làm thế nào sự quản lý như thế có thể dẫn đến sự cứu rỗi con người được? Nhiều người theo Chúa chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để đạt được ân phước hay ngăn chặn tai ương. Ngay khi công tác và sự quản lý của Đức Chúa Trời được đề cập thì họ lại im lặng và mất đi mọi hứng thú. Họ nghĩ rằng hiểu biết về những vấn đề tẻ nhạt đó sẽ chẳng giúp đời sống của họ tăng trưởng hay cung cấp bất kỳ lợi ích gì. Kết quả là, mặc dù họ đã nghe về sự quản lý của Đức Chúa Trời, họ chẳng lưu ý một chút nào. Họ không xem nó là điều gì đó quý giá để chấp nhận lấy, càng không nhận nó như một phần trong đời sống của họ. Những người như thế chỉ có một mục tiêu đơn giản để theo Chúa, và mục tiêu đó là để nhận lãnh ân phước. Những người như thế chẳng màng chú ý đến bất kỳ thứ gì khác mà không trực tiếp liên quan đến mục tiêu này. Đối với họ, không có mục tiêu nào chính đáng hơn là tin vào Chúa để nhận lãnh ơn phước - đó chính là giá trị đức tin của họ. Nếu điều gì không đóng góp vào mục tiêu này, họ cứ hoàn toàn thờ ơ với nó. Đây là tình hình của hầu hết mọi người tin vào Chúa ngày nay. Mục tiêu và ý định của họ có vẻ chính đáng, bởi vì khi họ tin Chúa, họ cũng dâng mình cho Chúa, dâng hiến cho Chúa, và thi hành bổn phận của mình. Họ hy sinh tuổi trẻ, từ bỏ gia đình và sự nghiệp, và thậm chí còn sống nhiều năm tất bật xa gia đình. Vì mục đích cuối cùng của họ, họ thay đổi niềm hứng thú của riêng mình, quan điểm về cuộc sống của mình, và thậm chí là phương hướng tìm kiếm của mình; thế nhưng họ vẫn không thể thay đổi mục tiêu đức tin của mình vào Chúa. Họ xuôi ngược để quản lý những lý tưởng của chính họ; bất kể con đường có xa xôi, và bất kể bao nhiêu chông gai và trở ngại trên đường, họ vẫn bền bỉ và không sợ hãi cái chết. Sức mạnh nào buộc họ phải tiếp tục dâng hiến bản thân theo cách này? Liệu đó có phải là lương tâm của họ hay không? Liệu đó có phải là khí chất vĩ đại và cao quý của họ hay không? Liệu đó có phải là quyết tâm chiến đấu với các thế lực ma quỷ cho đến tận cùng của họ? Liệu đó có phải đức tin của họ nhằm làm chứng cho Đức Chúa Trời mà không tìm kiếm phần thưởng? Liệu đó có phải lòng trung thành của họ trong việc sẵn sàng từ bỏ mọi thứ để đạt được ý muốn của Đức Chúa Trời? Hay đó là tinh thần cống hiến của họ luôn sẵn lòng từ bỏ những đòi hỏi vô độ của bản thân? Đối với một người chưa từng hiểu công tác quản lý của Đức Chúa Trời mà vẫn cho đi quá nhiều, thì đó hoàn toàn là một phép màu! Bây giờ, hãy thôi bàn thảo về việc những người này đã cho đi bao nhiêu. Tuy nhiên, hành xử của họ rất đáng để chúng ta phân tích. Ngoài những lợi ích trực tiếp liên quan đến họ, liệu có còn các lý do nào khác để những người mà chẳng bao giờ hiểu Chúa lại dâng hiến quá nhiều cho Ngài? Trong việc này, chúng ta phát hiện ra một vấn đề mà trước đây chưa xác định được: Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời chỉ là một thứ tư lợi trần trụi. Đó là mối quan hệ giữa người cho và người nhận những ân phước. Nói rõ hơn là nó giống như mối quan hệ giữa người làm công và người chủ. Người làm công làm việc chỉ để nhận thưởng của người chủ ban cho. Chẳng có tình cảm gì trong một mối quan hệ như thế, chỉ là sự đổi chác. Chẳng có yêu mến hay được yêu mến, chỉ có sự bố thí và thương xót. Chẳng có sự thấu hiểu, chỉ có sự phẫn nộ bị kìm nén và sự lừa dối. Chẳng có sự thân tình, chỉ có một hố sâu ngăn cách không thể vượt qua. Bây giờ mọi thứ đã đến mức này, ai có thể đảo ngược được tình huống như vậy? Và mấy ai có khả năng thực sự hiểu rằng mối quan hệ này đã trở nên đáng sợ như thế nào? Ta tin rằng khi người ta chìm đắm trong niềm vui sướng được ban phước lành, chẳng ai có thể tưởng tượng mối quan hệ như vậy với Chúa lại đáng xấu hổ và khó coi thế nào.
Điều đáng buồn nhất về niềm tin của con người vào Chúa là họ tiến hành việc quản lý của chính họ giữa công tác của Đức Chúa Trời, mà lại chẳng chú ý gì đến sự quản lý của Đức Chúa Trời. Thất bại to lớn nhất của con người nằm ở chỗ làm thế nào mà, đồng thời với việc cố gắng vâng phục Chúa và thờ phượng Ngài, con người cũng đang xây dựng đích đến lý tưởng của riêng mình, và bày mưu làm thế nào để nhận lãnh được ân phước to lớn nhất và đích đến tốt đẹp nhất. Cho dù có người hiểu rằng họ đáng thương, đáng ghét, và thảm hại dường nào, mấy ai có thể sẵn sàng từ bỏ lý tưởng và niềm hy vọng của họ? Và ai có thể dừng bước và thôi không chỉ nghĩ về mỗi bản thân họ? Đức Chúa Trời cần những ai sẽ hợp tác cận kề với Ngài để hoàn tất sự quản lý của Ngài. Ngài cần những ai sẽ vâng phục Ngài bằng cách dâng hiến toàn bộ thân tâm cho công tác quản lý của Ngài. Ngài không cần đến những kẻ hằng ngày chỉ đưa tay cầu xin từ Ngài, càng không cần những kẻ chỉ cho đi một ít mà lại chờ đợi để được ban thưởng. Đức Chúa Trời khinh ghét những kẻ chỉ đóng góp một phần nhỏ mọn, và rồi tự mãn với việc làm của mình. Ngài ghét những kẻ máu lạnh, những kẻ thấy phiền với công tác quản lý của Ngài và chỉ muốn nói về việc lên thiên đàng và nhận lãnh ân phước. Ngài càng ghê tởm hơn với những kẻ lợi dụng cơ hội từ công tác Ngài làm để cứu rỗi nhân loại. Đó là bởi những người này chưa bao giờ quan tâm đến những gì Đức Chúa Trời mong muốn đạt được và thu được thông qua công tác quản lý của Ngài. Họ chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để có thể tận dụng cơ hội do công tác của Đức Chúa Trời mang lại để có được các ân phước. Họ chẳng quan tâm đến tấm lòng của Chúa, mà hoàn toàn bị chiếm cứ bởi những triển vọng và số phận của riêng mình. Những kẻ thấy phiền về công tác quản lý của Đức Chúa Trời và không có chút hứng thú nào với việc Chúa cứu rỗi nhân loại như thế nào và ý muốn của Ngài, những kẻ đó chỉ đang làm những việc thỏa mãn chính mình theo cách tách biệt khỏi công tác quản lý của Đức Chúa Trời. Hành xử của họ không được nhớ đến hay chấp thuận bởi Đức Chúa Trời - càng không được Đức Chúa Trời ưu ái xem xét đến.
Trong sự bao la của vũ trụ và bầu trời, vô số tạo vật sống và sinh sôi, tuân theo quy luật tuần hoàn của sự sống, và gắn liền với một quy luật bất biến. Những tạo vật chết đi mang theo bên mình những câu chuyện về sự sống, còn những kẻ đang sống thì lặp lại lịch sử bi thương của những kẻ đã mất. Và như thế, nhân loại không thể không tự hỏi rằng: Tại sao chúng ta sống? Tại sao chúng ta phải chết đi? Ai điều khiển thế gian này? Và ai đã tạo dựng ra nhân loại này? Liệu nhân loại có thực sự do mẹ thiên nhiên sinh ra không? Liệu con người có thực sự tự điều khiển lấy số phận của họ không? … Đây là những câu hỏi mà nhân loại đã không ngừng hỏi trong hàng ngàn năm. Thật không may, con người càng trở nên ám ảnh với những câu hỏi này, họ càng trở nên khát khao khoa học. Khoa học mang lại sự hài lòng thoáng qua và sự vui thú tạm thời của xác thịt, nhưng không đủ để giải phóng con người khỏi sự đơn độc, cô đơn, sự khiếp sợ khó che giấu, và sự bất lực ẩn sâu trong tâm hồn họ. Nhân loại chỉ dùng những kiến thức khoa học mà họ có thể thấy bằng mắt thường và hiểu bằng trí óc của họ để xoa dịu lòng họ. Tuy vậy, những kiến thức khoa học như thế không đủ để ngăn cản nhân loại khám phá những lẽ mầu nhiệm. Nhân loại chẳng biết ai là Đấng Tối Cao của vạn vật trong vũ trụ, càng không biết về khởi nguyên và tương lai của nhân loại. Nhân loại chỉ đơn thuần sống bất đắc dĩ giữa luật lệ này. Không ai có thể thoát khỏi nó và cũng chẳng ai có thể thay đổi nó, bởi vì giữa vạn vật và trên các từng trời chỉ có một Đấng từ vô thủy vô chung nắm giữ quyền tối cao trên muôn vật. Ngài là Đấng mà nhân loại chưa từng thấy được, là Đấng mà nhân loại chưa từng biết đến, là Đấng mà nhân loại chưa từng tin sự hiện hữu của Ngài - ấy thế mà Ngài lại là Đấng thổi hơi vào tổ tiên của nhân loại và ban sự sống cho nhân loại. Ngài là Đấng chu cấp và nuôi dưỡng nhân loại, cho phép họ tồn tại; và Ngài là Đấng dìu dắt nhân loại cho đến ngày hôm nay. Hơn nữa, Ngài và chỉ Ngài mới là Đấng mà nhân loại dựa vào để sống sót. Ngài nắm quyền tối cao trên muôn vật và trị vì muôn loài sinh vật trong vũ trụ. Ngài điều khiển bốn mùa, và chính Ngài là Đấng gọi gió, sương, mưa, tuyết. Ngài mang lại ánh dương cho nhân loại và dẫn lối trong màn đêm. Chính Ngài đã bày ra trời đất, chu cấp cho con người núi non sông hồ và muôn loài sinh vật trong đó. Những việc Ngài làm hiện diện khắp mọi nơi, quyền năng của Ngài có mặt khắp mọi nơi, sự khôn ngoan của Ngài hiện hữu khắp mọi nơi, và thẩm quyền của Ngài cũng ở khắp mọi nơi. Mỗi một điều trong các luật lệ và phép tắc này đều là hiện thân của việc Ngài làm, và mỗi một điều đều tỏ lộ sự khôn ngoan và thẩm quyền của Ngài. Ai có thể miễn trừ chính mình khỏi quyền tối cao của Ngài? Và ai có thể loại chính mình khỏi những sự sắp đặt của Ngài? Vạn vật đều tồn tại dưới mắt Ngài, và hơn thế, vạn vật đều sống dưới quyền tối cao của Ngài. Những việc Ngài làm và quyền năng của Ngài khiến con người không còn chọn lựa nào khác hơn là phải thừa nhận thực tế rằng Ngài thực sự hiện hữu và nắm quyền tối cao trên vạn vật. Không gì khác ngoài Ngài có thể điều khiển vũ trụ, càng chẳng gì khác có thể chu cấp vô tận cho nhân loại này. Bất kể ngươi có thể nhận ra những việc Ngài làm hay không, và bất kể ngươi có tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời hay không, chắc chắc số phận của ngươi vẫn do Đức Chúa Trời quyết định, và chắc chắc Đức Chúa Trời sẽ luôn nắm giữ quyền tối cao trên vạn vật. Sự hiện hữu và thẩm quyển của Ngài không căn cứ vào việc con người có nhận ra và hiểu được chúng hay không. Chỉ có Ngài mới biết về quá khứ, hiện tại, và tương lai của con người, và chỉ có Ngài mới có thể quyết định số phận của nhân loại. Bất kể ngươi có thể chấp nhận thực tế này hay không, sẽ không lâu nữa để nhân loại tận mắt chứng kiến toàn bộ điều này, và đây là thực tế mà Đức Chúa Trời sẽ sớm làm cho hiện bày. Nhân loại sống và chết dưới mắt của Chúa. Con người sống bởi sự quản lý của Chúa, và khi họ nhắm mắt lần cuối, đó cũng chính là bởi sự quản lý này mà họ nhắm mắt. Con người cứ đến rồi đi hết lần này đến lần khác, đi tới đi lui. Không có ngoại lệ, đó toàn bộ là một phần trong quyền tối cao và sự sắp đặt của Ngài. Sự quản lý của Đức Chúa Trời chưa bao giờ dừng lại; nó mãi luôn tiến triển. Ngài sẽ khiến nhân loại biết được sự hiện hữu của Ngài, tin tưởng vào quyền tối cao của Ngài, thấy được những việc làm của Ngài, và trở về vương quốc của Ngài. Đây là kế hoạch của Ngài, và là công tác mà Ngài đã và đang quản lý trong hàng ngàn năm.
Công tác quản lý của Đức Chúa Trời đã bắt đầu từ lúc sáng thế, và con người là cốt lõi của công tác này. Việc Đức Chúa Trời tạo dựng nên vạn vật có thể nói là vì lợi ích của con người. Bởi vì công tác quản lý của Ngài trải dài trong hàng nghìn năm, và không phải được thực hiện trong khoảng thời gian chỉ tính bằng phút hay giây, hay trong nháy mắt, hay trong một hai năm, mà Ngài đã phải tạo dựng nhiều thứ cần thiết cho sự sống còn của nhân loại, như là mặt trời, mặt trăng, mọi loài sinh vật sống, thức ăn, và một môi trường thân thiện. Đây là khởi đầu trong sự quản lý của Đức Chúa Trời.
Sau đó, Chúa đã giao nhân loại cho Sa-tan, và con người đã sống dưới lãnh thổ của Sa-tan, điều mà dần dà đã dẫn đến công tác của Chúa trong thời đại đầu tiên: câu chuyện của Thời đại Luật pháp… Qua vài ngàn năm suốt Thời đại Luật pháp, nhân loại đã trở nên quen với sự dẫn dắt của Thời đại Luật pháp và xem đó như là điều đương nhiên. Dần dà, con người đã rời bỏ sự coi sóc của Đức Chúa Trời. Và như vậy, trong khi tuân theo luật pháp, họ cũng thờ thần tượng và thực hiện những việc ác. Họ đã không có sự bảo vệ của Đức Giê-hô-va, và chỉ đơn thuần sống cuộc sống của họ trước bàn thờ trong đền. Thực ra, công tác của Chúa đã rời khỏi họ từ lâu, và cho dù dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn vướng mắc trong luật pháp, vẫn gọi danh Đức Giê-hô-va, và thậm chí còn tự hào tin rằng chỉ có họ mới là dân sự của Đức Giê-hô-va, và là dân sự được chọn của Đức Giê-hô-va, nhưng vinh quang của Chúa đã lặng lẽ từ bỏ họ…
Khi Đức Chúa Trời làm công tác của Ngài, Ngài luôn lặng lẽ rời khỏi một nơi và nhẹ nhàng thực hiện công tác mới mà Ngài bắt đầu ở một nơi khác. Điều này có vẻ khó tin với mọi người, những con người bị tê dại. Người ta đã luôn trân quý những điều xưa cũ và nhìn những điều mới lạ bằng ác cảm, hoặc xem chúng như một điều phiền toái. Và như vậy, bất kể công tác mới nào Đức Chúa Trời làm, từ lúc bắt đầu cho đến tận khi kết thúc, con người cũng là loài cuối cùng trong muôn vật biết đến nó.
Như thường lệ, sau công tác của Đức Giê-hô-va trong Thời đại Luật pháp, Đức Chúa Trời đã bắt đầu công tác mới của Ngài ở giai đoạn thứ hai: mặc lấy xác thịt - nhập thể làm người trong mười, hai mươi năm - phán dạy và thực hiện công việc của Ngài giữa các tín đồ. Nhưng cũng không ngoại lệ, chẳng ai biết điều này, và chỉ có một số ít người thừa nhận rằng Ngài là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt sau khi Đức Chúa Jêsus chịu đóng đinh lên thập tự giá và đã phục sinh. Càng khó khăn hơn, bỗng xuất hiện một người tên Phao-lô, người đã đặt mình vào thế thù hằn sống chết với Đức Chúa Trời. Thậm chí sau khi bị đánh gục và trở thành một sứ đồ, Phao-lô đã không thay đổi bản chất cũ của mình, và ông tiếp tục bước trên con đường đối nghịch với Chúa. Trong thời gian ông làm việc, Phao-lô đã viết nhiều bức thư; chẳng may thay, các thế hệ sau thưởng thức những bức thư này như là lời Chúa, và chúng thậm chí đã được đưa vào Tân Ước và bị nhầm lẫn với những lời được Đức Chúa Trời phán ra. Đây đã là một sự sỉ nhục vô cùng kể từ khi Kinh Thánh ra đời! Và chẳng phải sai sót này xảy ra là bởi sự xuẩn ngốc tột độ của con người hay sao? Họ không biết được rằng, trong các bản ghi chép về công tác của Đức Chúa Trời trong Thời đại Ân điển, các bức thư và ghi chép thuộc linh của con người không nên ở đó để là hiện thân cho công tác và lời Chúa. Nhưng đây là ý ngoài lề, do vậy chúng ta hãy cùng quay lại chủ đề ban đầu. Ngay sau khi giai đoạn thứ hai của công tác Đức Chúa Trời được hoàn tất - tức là sau sự đóng đinh trên thập giá - công tác của Chúa nhằmhồi phục con người từ tội lỗi (nghĩa là, giành lại con người từ tay của Sa-tan) đã được hoàn tất. Và như vậy, từ đó trở đi, nhân loại chỉ phải chấp nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế, và những tội lỗi của họ sẽ được tha thứ. Trên danh nghĩa mà nói, thì những tội lỗi của con người không còn là điều cản trở họ đạt được sự cứu rỗi và đến trước Chúa, và không còn là đòn bẩy mà Sa-tan sử dụng để buộc tội con người. Đó là bởi vì chính Đức Chúa Trời đã làm công việc thực tế, đã trở nên hình tượng và nếm trải trước xác thịt tội lỗi, và chính Đức Chúa Trời đã làm của lễ chuộc tội. Bằng cách này, con người đã bước xuống khỏi thập giá, được cứu chuộc và cứu rỗi qua xác thịt của Đức Chúa Trời - hình tượng của xác thịt tội lỗi này. Và như vậy, sau khi đã bị Sa-tan bắt giữ, con người đã tiến một bước gần hơn đến việc chấp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trước Ngài. Dĩ nhiên, giai đoạn này của công tác là sâu nhiệm hơn và phát triển hơn sự quản lý của Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp.
Sự quản lý của Đức Chúa Trời là như thế này: giao nhân loại cho Sa-tan - nhân loại mà chẳng biết Đức Chúa Trời là gì, Đấng Tạo Hóa là gì, thờ phượng Chúa ra sao, hay tại sao cần phải vâng phục Chúa - và để Sa-tan làm cho họ bại hoại. Từng bước một, Đức Chúa Trời sau đó giành lại con người từ tay Sa-tan, cho đến khi con người hoàn toàn thờ phượng Đức Chúa Trời và loại bỏ Sa-tan. Đây là sự quản lý của Đức Chúa Trời. Điều này nghe như một câu chuyện hoang đường, và nó có vẻ khó hiểu. Người ta cảm thấy như đây là một câu chuyện hoang đường bởi vì họ chẳng biết một chút gì về bao nhiêu chuyện đã xảy ra với con người trong vài ngàn năm qua, họ càng không hay biết về bao nhiêu chuyện đã xảy ra trong khoảng không của vũ trụ này. Và hơn thế nữa, đó là bởi họ không thể nhận thức được một thế giới kỳ lạ hơn, đáng sợ hơn đang tồn tại bên ngoài thế giới vật chất, mà với mắt thường họ không thể nhìn thấy được. Con người cảm thấy khó hiểu bởi vì họ không hiểu biết về ý nghĩa sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đối với con người, hay ý nghĩa của công tác quản lý của Ngài, và không hiểu được cuối cùng Đức Chúa Trời mong muốn con người sẽ trở nên như thế nào. Liệu đó có phải là việc hoàn toàn không bị Sa-tan làm cho bại hoại, như A-đam và Êva? Không! Mục đích sự quản lý của Đức Chúa Trời là nhằm thu nhận được một nhóm người thờ phượng Chúa và vâng phục Ngài. Mặc dù những người này đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, họ không còn xem Sa-tan là cha của mình nữa; họ nhận ra bộ mặt gớm guốc của Sa-tan và loại bỏ nó, và họ đến trước Chúa để chấp nhận sự phán xét và trừng phạt của Chúa. Họ bắt đầu biết được điều gì là xấu xa và nó tương phản ra sao với những điều thánh khiết, và nhận ra sự vĩ đại của Chúa và sự tà xác của Sa-tan. Nhân loại như thế này sẽ không còn làm việc cho Sa-tan, hay thờ phượng hoặc sùng kính Sa-tan nữa. Đó là bởi họ là nhóm người đã thực sự được Đức Chúa Trời thu nhận. Đây là ý nghĩa của sự quản lý của Đức Chúa Trời với nhân loại. Trong suốt công tác quản lý của Đức Chúa Trời ở thời này, loài người là đối tượng của cả sự bại hoại của Sa-tan lẫn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và con người là sản phẩm mà Đức Chúa Trời và Sa-tan đang tranh đấu. Khi Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài, Ngài dần dần giành lại con người từ tay Sa-tan, và như thế con người đến gần với Đức Chúa Trời hơn bao giờ hết…
Và rồi đến Thời đại Vương quốc, là một giai đoạn công tác thực tế hơn, nhưng cũng là giai đoạn khó chấp nhận nhất đối với con người. Đó là bởi vì con người càng đến gần Đức Chúa Trời hơn thì gậy của Đức Chúa Trời cũng tiến gần con người hơn, và gương mặt của Chúa càng tỏ hiện rõ hơn với con người. Theo sau sự cứu chuộc nhân loại, con người chính thức trở về gia đình Chúa. Họ nghĩ rằng bây giờ là lúc để thụ hưởng, thế nhưng họ phải hứng trọn một sự tấn công trực diện từ Chúa, điều mà không ai có thể từng thấy trước: Hóa ra, đây là một phép Báp-tem mà dân sự của Chúa phải “hưởng”. Trước sự đối xử như vậy, người ta không thể không khựng lại và tự ngẫm với mình rằng: “Tôi là chiên con bị lạc trong nhiều năm mà Chúa đã tiêu tốn rất nhiều để mua lại, vậy thì tại sao Ngài lại đối xử với tôi như thế này? Liệu đây có phải cách Chúa cười nhạo tôi, và tỏ lộ tôi? …” Sau nhiều năm trôi qua, con người đã trở thành kẻ dày dạn sương gió, đã trải qua gian khổ của sự tinh luyện và trừng phạt. Mặc dù con người đã mất đi sự “vẻ vang” và “lãng mạn” của thời quá khứ, nhưng dù không hề hay biết, họ đã bắt đầu hiểu biết về các nguyên tắc ứng xử của con người, và đã bắt đầu trân quý những năm Đức Chúa Trời đã cống hiến để cứu nhân loại. Con người dần dà bắt đầu ghê tởm sự man rợ của chính mình. Họ bắt đầu căm ghét sự cục súc của họ, hết thảy những hiểu lầm của họ với Chúa, và những đòi hòi vô lý mà họ đã đưa ra cho Ngài. Thời gian không thể quay trở lại. Những sự kiện quá khứ trở thành ký ức đầy nuối tiếc của con người, những lời và tình yêu của Đức Chúa Trời trở thành chủ lực trong cuộc sống mới của con người. Vết thương của con người lành lặn theo từng ngày, sức mạnh của họ trở lại, họ đứng dậy và nhìn vào gương mặt Đấng Toàn Năng… chỉ để nhận ra rằng Ngài vẫn luôn ở bên mình, và rằng nụ cười và dung mạo đẹp đẽ của Ngài vẫn gây xúc động biết bao. Lòng Ngài vẫn còn quan tâm đến nhân loại mà Ngài đã tạo dựng, và đôi tay Ngài vẫn còn ấm áp và mạnh mẽ như buổi ban đầu. Điều đó như thể con người đã trở lại vườn Ê-đen, nhưng lần này không còn nghe những lời dụ dỗ của con rắn, và không còn tránh mặt Đức Giê-hô-va. Con người quỳ phục trước Đức Chúa Trời, ngước nhìn gương mặt tươi cười của Đức Chúa Trời, và dâng của lễ quý giá nhất của mình - Ôi! Lạy Chúa tôi, Đức Chúa Trời tôi!
Tình yêu và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời thấm đẫm mỗi một chi tiết trong công tác quản lý của Ngài, và bất kể người ta có thể hiểu ý định tốt đẹp của Đức Chúa Trời hay không, Ngài vẫn miệt mài làm công tác mà Ngài đã đặt ra để hoàn thành. Bất kể người ta hiểu về sự quản lý của Chúa nhiều bao nhiêu, thì sự trợ giúp và những lợi ích mà công tác của Chúa mang lại cho con người đều có thể được nhận thấy bởi mọi người. Có lẽ ngày hôm nay ngươi chưa cảm nhận được chút gì về tình yêu hay sự sống mà Đức Chúa Trời ban cho, nhưng miễn là ngươi không từ bỏ Chúa, và không từ bỏ quyết tâm của mình để theo đuổi lẽ thật, sẽ có một ngày nụ cười của Chúa sẽ được tỏ lộ cho ngươi. Bởi vì mục tiêu công tác quản lý của Đức Chúa Trời là giành lại những người đang ở dưới lãnh thổ của Sa-tan, chứ không phải từ bỏ những người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại và chống lại Chúa.
Ngày 23 tháng 9, 2005
Nguồn
bài viết : PHÚC
ÂM VỀ
SỰ HIỆN XUỐNG CỦA VƯƠNG QUỐC
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





