Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều là một bản ghi chép về những lời Đức Chúa Trời đã đích thân phán dạy. Kinh Thánh chỉ đơn giản ghi lại hai giai đoạn trước của công tác Đức Chúa Trời, một phần là bản ghi chép về những lời tiên báo của các tiên tri, còn một phần là những kinh nghiệm và kiến thức được viết bởi những người được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại. Những kinh nghiệm của con người bị vấy bẩn bởi những quan điểm và kiến thức của con người, đó là điều không thể tránh khỏi. Trong nhiều sách của Kinh Thánh có chứa những ý niệm của con người, những thành kiến của con người, và những nhận thức phi lý của con người. Tất nhiên, hầu hết những lời đều là kết quả của sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh, và chúng là những hiểu biết chính xác - nhưng vẫn không thể nói rằng chúng là những sự bày tỏ hoàn toàn chính xác về lẽ thật. Những quan điểm của họ về những điều cụ thể không gì khác hơn là kiến thức từ kinh nghiệm cá nhân, hoặc sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Việc tiên báo của các tiên tri đã được Đức Chúa Trời đích thân chỉ dẫn: Những lời tiên tri tương tự như của Ê-sai, Đa-ni-ên, E-xơ-ra, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên xuất phát từ sự chỉ dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh, những người này là những nhà tiên kiến, họ đã nhận được Thần tiên tri, tất cả họ đều là các tiên tri của Cựu Ước. Trong Thời đại Luật pháp, những người này là những người đã nhận được sự soi dẫn của Đức Giê-hô-va, đã nói nhiều lời tiên tri được Đức Giê-hô-va trực tiếp chỉ dẫn. Và tại sao Đức Giê-hô-va đã làm việc qua họ? Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là dân sự được Chúa chọn, và công tác của các tiên tri phải được thực hiện giữa họ; đó là lí do tại sao các tiên tri có thể nhận được những sự mặc khải như thế. Thực ra, chính họ đã không hiểu những sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho họ. Đức Thánh Linh đã phán những lời đó qua miệng của họ hầu cho những người trong tương lai có thể thấu hiểu được những điều đó, và thấy rằng chúng thực sự là công tác của Thần của Đức Chúa Trời, của Đức Thánh Linh, chứ không đến từ con người, và để ban cho họ sự quả quyết về công tác của Đức Thánh Linh. Trong Thời đại Ân điển, chính Jêsus đã làm tất cả công tác này thay cho họ, và vì vậy mọi người không còn nói tiên tri nữa. Vậy Jêsus có phải là một tiên tri không? Dĩ nhiên, Jêsus là một tiên tri, nhưng Ngài cũng có thể làm công tác của các sứ đồ: Ngài có thể vừa nói tiên tri vừa rao giảng và dạy bảo mọi người trên khắp vùng đất. Tuy nhiên, công tác Ngài đã làm và danh tính mà Ngài đại diện là khác. Ngài đã đến để cứu chuộc toàn nhân loại, để cứu chuộc con người khỏi tội lỗi; Ngài là một tiên tri và là một sứ đồ, nhưng hơn thế nữa, Ngài là Đấng Christ. Một tiên tri có thể nói tiên tri, nhưng không thể nói rằng người là Đấng Christ. Vào lúc đó, Jêsus đã phán nhiều lời tiên tri, và vì vậy có thể nói rằng Ngài là một tiên tri, nhưng không thể nói rằng vì Ngài là một tiên tri nên không phải là Đấng Christ. Đó là bởi vì Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời trong việc thực hiện một giai đoạn công tác, và danh tính của Ngài khác với của Ê-sai: Ngài đã đến để hoàn tất công tác cứu chuộc, Ngài cũng đã cung cấp sự sống cho con người, và Thần của Đức Chúa Trời đã đến với Ngài một cách trực tiếp. Trong công tác Ngài đã làm, không có sự soi dẫn nào từ Thần của Đức Chúa Trời hoặc những chỉ dẫn từ Đức Giê-hô-va. Thay vào đó, Thần đã làm việc trực tiếp - điều đó đủ để chứng tỏ rằng Jêsus không giống như một nhà tiên tri. Công tác Ngài đã làm là công tác cứu chuộc, đứng thứ hai tiếp sau đó mới là việc nói tiên tri. Ngài là một tiên tri, một sứ đồ, và hơn thế nữa Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Trong khi đó, những người tiên báo chỉ có thể nói tiên tri, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời để làm bất kỳ công tác nào khác. Bởi vì Jêsus đã làm nhiều việc mà trước đây chưa từng được con người thực hiện và đã làm công tác cứu chuộc nhân loại, do đó Ngài khác với những người như Ê-sai. Việc một số người không chấp nhận dòng chảy của ngày nay là vì điều này đã tạo ra một trở ngại cho họ. Họ nói: “Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri cũng đã phán nhiều lời - vậy tại sao họ không phải là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt? Đức Chúa Trời của ngày nay phán lời - điều đó có đủ để chứng minh rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể không? Bạn không tôn trọng Kinh Thánh, bạn cũng không nghiên cứu nó - vậy bạn có cơ sở nào để nói rằng Ngài là sự nhập thể của Đức Chúa Trời? Bạn nói rằng họ được Đức Thánh Linh chỉ dẫn, và bạn tin rằng giai đoạn công tác này là công tác do Đức Chúa Trời đích thân thực hiện - nhưng cơ sở của bạn cho điều này là gì? Bạn dồn sự tập trung vào những lời của Đức Chúa Trời ngày nay, trông như thể bạn đã phủ nhận Kinh Thánh, và đặt nó sang một bên”. Và vì vậy họ nói rằng ngươi tin vào tà giáo và dị giáo.
2020-05-10
Xét về Kinh Thánh (3)
Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều là một bản ghi chép về những lời Đức Chúa Trời đã đích thân phán dạy. Kinh Thánh chỉ đơn giản ghi lại hai giai đoạn trước của công tác Đức Chúa Trời, một phần là bản ghi chép về những lời tiên báo của các tiên tri, còn một phần là những kinh nghiệm và kiến thức được viết bởi những người được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại. Những kinh nghiệm của con người bị vấy bẩn bởi những quan điểm và kiến thức của con người, đó là điều không thể tránh khỏi. Trong nhiều sách của Kinh Thánh có chứa những ý niệm của con người, những thành kiến của con người, và những nhận thức phi lý của con người. Tất nhiên, hầu hết những lời đều là kết quả của sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh, và chúng là những hiểu biết chính xác - nhưng vẫn không thể nói rằng chúng là những sự bày tỏ hoàn toàn chính xác về lẽ thật. Những quan điểm của họ về những điều cụ thể không gì khác hơn là kiến thức từ kinh nghiệm cá nhân, hoặc sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Việc tiên báo của các tiên tri đã được Đức Chúa Trời đích thân chỉ dẫn: Những lời tiên tri tương tự như của Ê-sai, Đa-ni-ên, E-xơ-ra, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên xuất phát từ sự chỉ dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh, những người này là những nhà tiên kiến, họ đã nhận được Thần tiên tri, tất cả họ đều là các tiên tri của Cựu Ước. Trong Thời đại Luật pháp, những người này là những người đã nhận được sự soi dẫn của Đức Giê-hô-va, đã nói nhiều lời tiên tri được Đức Giê-hô-va trực tiếp chỉ dẫn. Và tại sao Đức Giê-hô-va đã làm việc qua họ? Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là dân sự được Chúa chọn, và công tác của các tiên tri phải được thực hiện giữa họ; đó là lí do tại sao các tiên tri có thể nhận được những sự mặc khải như thế. Thực ra, chính họ đã không hiểu những sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho họ. Đức Thánh Linh đã phán những lời đó qua miệng của họ hầu cho những người trong tương lai có thể thấu hiểu được những điều đó, và thấy rằng chúng thực sự là công tác của Thần của Đức Chúa Trời, của Đức Thánh Linh, chứ không đến từ con người, và để ban cho họ sự quả quyết về công tác của Đức Thánh Linh. Trong Thời đại Ân điển, chính Jêsus đã làm tất cả công tác này thay cho họ, và vì vậy mọi người không còn nói tiên tri nữa. Vậy Jêsus có phải là một tiên tri không? Dĩ nhiên, Jêsus là một tiên tri, nhưng Ngài cũng có thể làm công tác của các sứ đồ: Ngài có thể vừa nói tiên tri vừa rao giảng và dạy bảo mọi người trên khắp vùng đất. Tuy nhiên, công tác Ngài đã làm và danh tính mà Ngài đại diện là khác. Ngài đã đến để cứu chuộc toàn nhân loại, để cứu chuộc con người khỏi tội lỗi; Ngài là một tiên tri và là một sứ đồ, nhưng hơn thế nữa, Ngài là Đấng Christ. Một tiên tri có thể nói tiên tri, nhưng không thể nói rằng người là Đấng Christ. Vào lúc đó, Jêsus đã phán nhiều lời tiên tri, và vì vậy có thể nói rằng Ngài là một tiên tri, nhưng không thể nói rằng vì Ngài là một tiên tri nên không phải là Đấng Christ. Đó là bởi vì Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời trong việc thực hiện một giai đoạn công tác, và danh tính của Ngài khác với của Ê-sai: Ngài đã đến để hoàn tất công tác cứu chuộc, Ngài cũng đã cung cấp sự sống cho con người, và Thần của Đức Chúa Trời đã đến với Ngài một cách trực tiếp. Trong công tác Ngài đã làm, không có sự soi dẫn nào từ Thần của Đức Chúa Trời hoặc những chỉ dẫn từ Đức Giê-hô-va. Thay vào đó, Thần đã làm việc trực tiếp - điều đó đủ để chứng tỏ rằng Jêsus không giống như một nhà tiên tri. Công tác Ngài đã làm là công tác cứu chuộc, đứng thứ hai tiếp sau đó mới là việc nói tiên tri. Ngài là một tiên tri, một sứ đồ, và hơn thế nữa Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Trong khi đó, những người tiên báo chỉ có thể nói tiên tri, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời để làm bất kỳ công tác nào khác. Bởi vì Jêsus đã làm nhiều việc mà trước đây chưa từng được con người thực hiện và đã làm công tác cứu chuộc nhân loại, do đó Ngài khác với những người như Ê-sai. Việc một số người không chấp nhận dòng chảy của ngày nay là vì điều này đã tạo ra một trở ngại cho họ. Họ nói: “Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri cũng đã phán nhiều lời - vậy tại sao họ không phải là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt? Đức Chúa Trời của ngày nay phán lời - điều đó có đủ để chứng minh rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể không? Bạn không tôn trọng Kinh Thánh, bạn cũng không nghiên cứu nó - vậy bạn có cơ sở nào để nói rằng Ngài là sự nhập thể của Đức Chúa Trời? Bạn nói rằng họ được Đức Thánh Linh chỉ dẫn, và bạn tin rằng giai đoạn công tác này là công tác do Đức Chúa Trời đích thân thực hiện - nhưng cơ sở của bạn cho điều này là gì? Bạn dồn sự tập trung vào những lời của Đức Chúa Trời ngày nay, trông như thể bạn đã phủ nhận Kinh Thánh, và đặt nó sang một bên”. Và vì vậy họ nói rằng ngươi tin vào tà giáo và dị giáo.
2020-05-08
Chỉ bằng cách trải qua sự tinh luyện con người mới có thể sở hữu tình yêu thật sự
Tất cả các ngươi đang ở giữa sự thử thách và tinh luyện. Ngươi nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tinh luyện? Trải qua sự tinh luyện rồi, con người có thể dâng lên Đức Chúa Trời lời ca tụng thật sự, và giữa sự tinh luyện, họ có thể thấy mình đang thiếu sót rất nhiều. Càng được tinh luyện thì ngươi càng có thể từ bỏ xác thịt; càng được tinh luyện thì con người càng yêu mến Đức Chúa Trời hơn. Đây chính là điều các ngươi nên thông hiểu. Tại sao con người phải được tinh luyện? Sự tinh luyện nhằm đạt được hiệu quả gì? Tầm quan trọng của việc tinh luyện mà Đức Chúa Trời thực hiện trong con người là gì? Nếu ngươi thực sự tìm kiếm Đức Chúa Trời rồi cảm nghiệm được sự tinh luyện của Ngài đến một mức độ nào đó ngươi sẽ cảm thấy rằng điều đó thật tốt và đó là điều cần thiết tột bậc. Con nguời nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tinh luyện? Bằng cách dùng quyết tâm yêu mến Đức Chúa Trời để chấp nhận sự tinh luyện của Ngài: Trong quá trình tinh luyện, ngươi cảm biết đau đớn trong lòng như bị một luỡi dao đâm xoáy vào tim, tuy nhiên ngươi sẵn sàng làm thỏa lòng Đức Chúa Trời bằng tấm lòng mình, tấm lòng yêu mến Đức Chúa Trời và ngươi không hề muốn quan tâm đến xác thịt. Đây là ý nghĩa của việc thực hành tình yêu dành cho Đức Chúa Trời. Ngươi đau bên trong, và nỗi đau đớn của ngươi đã đến một mức nào đó, tuy nhiên ngươi vẫn sẵn lòng đến trước Đức Chúa Trời, và cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Chúa Trời! Con không thể rời xa Người. Dẫu rằng có bóng tối trong con thì con vẫn muốn làm đẹp lòng Người; Người biết tấm lòng của con và con ước rằng Người dành cho con nhiều tình yêu thương hơn nữa”. Đây là sự luyện tập trong suốt quá trình tinh luyện. Nếu ngươi dùng lòng yêu mến Đức Chúa Trời làm nền tảng, thì sự tinh luyện có thể đem ngươi đến gần Đức Chúa Trời hơn và làm cho ngươi trở nên mật thiết hơn với Ngài. Vì ngươi tin Đức Chúa Trời, nên ngươi phải dâng lòng mình trước Đức Chúa Trời. Nếu ngươi dâng và trải lòng ngươi trước Đức Chúa Trời, thì trong quá trình tinh luyện, ngươi sẽ không thể từ chối Đức Chúa Trời, hoặc rời xa Ngài. Bằng cách này thì mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên gần gũi hơn và bình thường hơn bao giờ hết và mối tương giao giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên thường xuyên hơn bao giờ hết. Nếu ngươi luôn thực hành theo cách này thì ngươi sẽ dành nhiều thời gian hơn trong sự sáng của Đức Chúa Trời, và nhiều thời gian hơn dưới sự chỉ dẫn của lời Ngài, cũng sẽ ngày càng có nhiều thay đổi trong tâm tính ngươi, và sự hiểu biết của ngươi sẽ gia tăng từng ngày. Khi ngày ấy đến và những thử thách của Đức Chúa Trời thình lình giáng xuống ngươi, ngươi chẳng những có thể đứng bên cạnh Đức Chúa Trời mà còn có thể làm chứng về Ngài. Lúc đó, ngươi cũng sẽ giống như Gióp và Phi-e-rơ. Khi đã làm chứng về Đức Chúa Trời thì ngươi sẽ thực sự yêu mến Ngài và sẽ vui lòng phó thác cuộc sống của mình cho Ngài; ngươi sẽ là chứng nhân của Đức Chúa Trời và là người được Đức Chúa Trời yêu thương. Tình yêu thương đã kinh qua sự tinh luyện thì mạnh mẽ và không hề yếu đuối. Bất kể khi nào hay bằng cách thức nào mà Đức Chúa Trời bắt ngươi phải chịu những thử thách của Ngài, ngươi đều có thể bất kể sống chết, vui mừng gạt bỏ mọi thứ sang một bên vì Đức Chúa Trời và vui lòng gánh chịu bất cứ điều gì vì Ngài - và như thế tình yêu thương của ngươi sẽ trở nên thánh khiết và đức tin của ngươi sẽ trở thành đức tin thật. Chỉ đến lúc đó ngươi mới là người được Đức Chúa Trời thực sự yêu mến và được làm cho toàn vẹn bởi Đức Chúa Trời.
2020-05-07
Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)
Giăng đã làm việc bảy năm cho Jêsus, và đã dọn đường khi Jêsus đến. Trước đó, Phúc Âm về vương quốc thiên đàng do Giăng rao giảng đã được nghe thấy khắp vùng, hầu cho nó lan rộng khắp Giu-đê, và mọi người gọi Giăng là một tiên tri. Vào lúc đó, Vua Hê-rốt muốn giết Giăng, nhưng lại không dám, vì dân chúng rất kính trọng Giăng, và Hê-rốt sợ rằng nếu vua giết Giăng thì họ sẽ nổi dậy chống lại vua. Công tác được Giăng thực hiện đã bén rễ giữa những người bình thường, và người đã tạo nên những tín đồ người Do Thái. Trong bảy năm, người đã dọn đường cho Jêsus, cho đến khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài. Và vì vậy, Giăng là người vĩ đại nhất trong tất cả các tiên tri. Jêsus chỉ bắt đầu công tác chính thức của Ngài sau khi Giăng bị cầm tù. Trước Giăng, chưa từng có một tiên tri nào dọn đường cho Đức Chúa Trời, bởi vì trước Jêsus, Đức Chúa Trời chưa bao giờ trở nên xác thịt trước đó. Và vì vậy, trong số tất cả các tiên tri cho đến Giăng, người là tiên tri duy nhất dọn đường cho Đức Chúa Trời nhập thể, và bằng cách này Giăng đã trở thành tiên tri vĩ đại nhất của Cựu và Tân Ước. Giăng đã bắt đầu rao truyền Phúc Âm của vương quốc thiên đàng bảy năm trước khi Jêsus nhận phép báp-têm. Đối với mọi người, công tác người đã làm dường như vượt trên công tác tiếp sau đó của Jêsus, tuy nhiên, người vẫn chỉ là một tiên tri mà thôi. Người đã làm việc và phán dạy không phải bên trong đền thờ, mà là ở các thị trấn và làng mạc bên ngoài đền thờ. Tất nhiên, người đã làm điều này giữa dân tộc Do Thái, đặc biệt là những người nghèo khổ. Hiếm khi Giăng tiếp xúc với những người từ giới thượng lưu của xã hội, chỉ rao truyền Phúc Âm giữa những người bình thường tại Giu-đê nhằm chuẩn bị những người phù hợp cho Đức Chúa Jêsus, và chuẩn bị những địa điểm thích hợp để Ngài làm việc. Với một tiên tri như Giăng mở đường, Đức Chúa Jêsus đã có thể bắt đầu ngay con đường thập tự giá của Ngài ngay khi Ngài đến. Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, Ngài đã không phải làm công tác chọn người, và không cần phải đích thân tìm người hay địa điểm để làm việc. Ngài đã không làm những việc như thế khi Ngài đến; người thích hợp đã chuẩn bị cho Ngài trước khi Ngài đến. Giăng đã hoàn thành công tác này trước khi Jêsus bắt đầu công tác của Ngài, vì khi Đức Chúa Trời nhập thể đến để thực hiện công tác của mình, Ngài đã bắt tay làm việc ngay trên những người đã chờ đợi Ngài từ lâu. Jêsus đã đến không phải để thực hiện công tác cải chính của con người. Ngài đã đến chỉ để thực hiện chức vụ mà chính Ngài phải thực hiện, và mọi thứ khác đều không liên quan đến Ngài. Khi Giăng đến, người đã không làm gì khác ngoài việc đưa ra khỏi đền thờ và giữa vòng dân Do Thái một nhóm người chấp nhận Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, để họ có thể trở thành những đối tượng cho công tác của Đức Chúa Jêsus. Giăng đã làm việc trong bảy năm, có nghĩa là người đã rao truyền Phúc Âm trong bảy năm. Trong công tác của mình, Giăng đã không thực hiện nhiều phép lạ, vì công tác của người là dọn đường, đó là công tác chuẩn bị. Tất cả những công tác khác, công tác Jêsus sẽ làm, không liên quan đến người; người đã chỉ yêu cầu con người xưng tội của mình và ăn năn, và làm phép báp-têm cho mọi người, hầu cho họ có thể được cứu rỗi. Mặc dù người đã làm công tác mới và đã mở ra một con đường mà con người chưa từng đi trước đó, nhưng người vẫn chỉ dọn đường cho Jêsus mà thôi. Người chỉ đơn thuần là một tiên tri đã làm công tác chuẩn bị, và không có khả năng làm công tác của Jêsus. Mặc dù Jêsus không phải là người đầu tiên rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, và mặc dù Ngài tiếp tục trên con đường mà Giăng đã mở ra, nhưng vẫn không có ai khác có thể làm công tác của Ngài, và nó vượt lên trên công tác của Giăng. Jêsus đã không thể chuẩn bị con đường riêng của Ngài; công tác của Ngài đã được thực hiện trực tiếp nhân danh Đức Chúa Trời. Và vì vậy, cho dù Giăng đã làm việc bao nhiêu năm thì người vẫn là một tiên tri, và vẫn là một người dọn đường. Ba năm công tác do Jêsus thực hiện đã vượt qua bảy năm công tác của Giăng, vì thực chất công tác của Ngài không giống như của Giăng. Khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, đó cũng là lúc công tác của Giăng kết thúc, Giăng đã chuẩn bị đủ người và địa điểm cho Đức Chúa Jêsus sử dụng, và chúng đã đủ cho Đức Chúa Jêsus bắt đầu ba năm công tác. Và vì vậy, ngay khi công tác của Giăng kết thúc, Đức Chúa Jêsus đã chính thức bắt đầu công tác của riêng Ngài, và những lời Giăng đã nói bị gạt sang một bên. Đó là do công tác mà Giăng thực hiện chỉ nhằm mục đích chuyển tiếp, và những lời nói của người không phải là những lời của sự sống sẽ đưa con người đến sự tăng trưởng mới; cuối cùng, những lời nói của người chỉ có ích lợi tạm thời mà thôi.
2020-05-06
Biết Đức Chúa Trời là cách để kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác
Mỗi người các ngươi nên xem xét lại cuộc đời tin vào Đức Chúa Trời của mình để xem khi theo Đức Chúa Trời, liệu ngươi có thật sự hiểu, thật sự hiểu thấu, và thật sự biết được Đức Chúa Trời hay không, liệu ngươi có thật sự biết Đức Chúa Trời có thái độ gì với những dạng người khác nhau, và liệu ngươi có thật sự hiểu công tác mà Đức Chúa Trời đang làm trên ngươi và Đức Chúa Trời định nghĩa từng hành động của ngươi như thế nào. Đức Chúa Trời này, Đấng bên cạnh ngươi, chỉ lối cho sự tiến triển của ngươi, định đoạt số mệnh của ngươi, và cung cấp cho những nhu cầu của ngươi - xét cho cùng, ngươi hiểu được bao nhiêu về Đức Chúa Trời này? Ngươi thật sự biết được bao nhiêu về Đức Chúa Trời này? Ngươi có biết Ngài làm gì trên ngươi mỗi một ngày không? Ngươi có biết những nguyên tắc và mục đích mà Ngài làm căn cứ cho mọi hành động của Ngài không? Ngươi có biết Ngài hướng dẫn ngươi thế nào không? Ngươi có biết những phương tiện mà Ngài dùng để cung cấp cho ngươi không? Ngươi có biết những phương pháp mà Ngài dùng để dẫn dắt ngươi không? Ngươi có biết Ngài mong muốn đạt được gì từ ngươi và mong muốn đạt được gì ở ngươi không? Ngươi có biết thái độ của Ngài đối với những cách hành xử khác nhau của ngươi không? Ngươi có biết liệu mình có phải là một người được Ngài yêu mến không? Ngươi có biết nguồn gốc của sự hoan hỉ, giận dữ, đau buồn , và vui mừng của Ngài, những suy nghĩ và ý tưởng đằng sau đó, và bản chất của Ngài không? Ngươi có biết cuối cùng thì Đức Chúa Trời mà ngươi tin này là dạng Đức Chúa Trời nào không? Có phải những câu hỏi này và những câu hỏi khác tương tự là điều ngươi chưa bao giờ hiểu hay nghĩ về không? Khi theo đuổi niềm tin của mình vào Đức Chúa Trời, ngươi đã loại bỏ được những hiểu lầm của mình về Ngài bằng sự cảm kích và trải nghiệm thật sự lời Chúa chưa? Sau khi nhận lãnh sự sửa dạy và sửa phạt của Đức Chúa Trời, ngươi đã có được sự vâng lời và quan tâm thật sự chưa? Giữa sự trừng phạt và phán xét của Đức Chúa Trời, ngươi đã nhận biết được sự phản nghịch và bản chất sa-tan của con người và có được chút hiểu biết về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời chưa? Dưới sự hướng dẫn và khai sáng của lời Chúa, ngươi đã bắt đầu có cách nhìn mới về sự sống chưa? Giữa những thử thách mà Đức Chúa Trời gửi tới, ngươi đã cảm nhận được sự không dung thứ của Ngài đối với những xúc phạm của con người cũng như những gì Ngài yêu cầu ở ngươi và cách Ngài đang cứu rỗi ngươi chưa? Nếu ngươi không biết hiểu lầm Đức Chúa Trời là gì, hay cách loại bỏ sự hiểu lầm này, khi ấy có thể nói rằng ngươi chưa bao giờ bước vào sự tương giao thật sự với Đức Chúa Trời và chưa bao giờ hiểu Đức Chúa trời, hoặc ít nhất có thể nói ngươi chưa bao giờ mong muốn được hiểu Ngài. Nếu ngươi không biết sự sửa dạy và sửa phạt của Đức Chúa Trời là gì, vậy thì ngươi chắc chắn không biết sự vâng lời và quan tâm là gì, hay chí ít ngươi chưa bao giờ vâng lời hay quan tâm Đức Chúa Trời thật sự. Nếu ngươi chưa bao giờ trải nghiệm sự trừng phạt và phán xét của Đức Chúa Trời, vậy thì ngươi chắc chắn không biết sự thánh khiết của Ngài là gì, và ngươi thậm chí sẽ càng không rõ sự phản nghịch của con người là gì. Nếu ngươi chưa bao giờ thật sự có cái nhìn đúng về sự sống, hay một mục đích đúng trong cuộc sống, mà vẫn trong trạng thái bối rối và do dự về con đường tương lai của mình trong cuộc sống, thậm chí tới mức lưỡng lự tiến tới, vậy thì chắc chắn ngươi chưa bao giờ nhận lãnh sự khai sáng và hướng dẫn của Đức Chúa Trời; cũng có thể nói rằng ngươi chưa bao giờ thật sự được cung cấp hay bổ sung bởi lời Chúa. Nếu ngươi chưa trải qua những thử thách của Đức Chúa Trời, vậy thì hiển nhiên ngươi chắc hẳn không biết sự không dung thứ của Đức Chúa Trời đối với những xúc phạm của con người là gì, ngươi cũng sẽ không hiểu cuối cùng Đức Chúa Trời yêu cầu điều gì ở ngươi, và càng không hiểu cuối cùng công tác quản lý và cứu rỗi con người của Ngài là gì. Bất kể con người đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm, nếu họ chưa bao giờ trải nghiệm hay nhận thức bất cứ điều gì trong lời Chúa, vậy thì chắc chắn họ không đang đi trên con đường hướng tới sự cứu rỗi, đức tin của họ vào Đức Chúa Trời chắc chắn không có nội dung thật, kiến thức của họ về Đức Chúa Trời chắc chắn cũng là con số không, và hiển nhiên họ hoàn toàn không biết tôn kính Đức Chúa Trời là gì.
2020-05-04
Về trải nghiệm
Xuyên suốt trải nghiệm của Phi-e-rơ, ông đã gặp phải hàng trăm thử thách. Mặc dù con người ngày nay biết thuật ngữ “thử thách”, nhưng họ bị nhầm lẫn về ý nghĩa thực sự và hoàn cảnh của từ này. Đức Chúa Trời tôi luyện ý chí quyết tâm của con người, tinh luyện sự tin chắc của họ và hoàn thiện mọi phần của họ - và việc này chủ yếu đạt được thông qua các thử thách, cũng là công tác của Đức Thánh Linh mà mọi người không thể thấy. Điều đó như thể Đức Chúa Trời đã bỏ rơi con người, và vì vậy nếu không cẩn thận, họ sẽ xem những thử thách này là cám dỗ của Sa-tan. Trong thực tế, nhiều thử thách có thể được coi là cám dỗ, và đây là nguyên tắc và luật lệ trong công tác của Đức Chúa Trời. Nếu con người thực sự sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, họ sẽ coi những thứ này là thử thách từ Đức Chúa Trời, và sẽ không để tuột mất những thử thách này. Nếu ai đó nói rằng vì Đức Chúa Trời ở cùng họ, Sa-tan chắc chắn sẽ không đến gần họ, điều này không hoàn toàn chính xác; nếu như vậy thì làm thế nào có thể giải thích rằng Jêsus đã phải đối mặt với những cám dỗ sau khi Ngài đã kiêng ăn nơi đồng vắng trong bốn mươi ngày? Vì vậy, nếu con người thực sự điều chỉnh cho đúng đắn quan điểm của họ về niềm tin vào Đức Chúa Trời, thì họ sẽ thấy nhiều điều rõ ràng hơn nữa, và sự hiểu biết của họ sẽ không bị sai lệch và lầm lạc. Nếu ai đó thực sự quyết tâm để được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện, thì họ phải tiếp cận những vấn đề đối mặt với họ từ nhiều góc độ khác nhau, không nghiêng ngả sang bên hữu hay bên tả. Nếu ngươi không có kiến thức về công tác của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ không biết cách hợp tác với Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không biết các nguyên tắc trong công tác của Đức Chúa Trời và không biết Sa-tan hoạt động ra sao trong con người, thì ngươi sẽ không có con đường đi đến thực hành. Chỉ có sự theo đuổi nhiệt tình không thôi sẽ không cho phép ngươi đạt được những kết quả mà Đức Chúa Trời yêu cầu. Một phương pháp trải nghiệm như vậy khá giống với Lawrence: không phân biệt bất cứ điều gì và chỉ tập trung vào trải nghiệm, hoàn toàn không biết công việc của Sa-tan là gì, công tác của Đức Thánh Linh là gì, con người như thế nào nếu không có sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và loại người nào Đức Chúa Trời muốn hoàn thiện. Những nguyên tắc nào nên được áp dụng khi tiếp xúc với những loại người khác nhau, làm thế nào để nắm bắt ý muốn của Đức Chúa Trời trong hiện tại, làm thế nào để biết được tâm tính của Đức Chúa Trời, và sự thương xót, oai nghi và công chính của Đức Chúa Trời là dành cho người nào, hoàn cảnh nào và thời đại nào - người không có nhận thức về những vấn đề này. Nếu con người không có nhiều khải tượng làm nền tảng cho trải nghiệm của họ, thì cuộc sống sẽ không còn gì để bàn, và việc trải nghiệm thì còn tồi tệ hơn nữa; họ có thể tiếp tục quy phục và chịu đựng mọi thứ một cách ngu ngốc. Những người như vậy rất khó để làm cho hoàn thiện. Có thể nói rằng nếu ngươi không có những khải tượng đã nói ở trên, thì đây là bằng chứng rất rõ ràng cho thấy ngươi là một kẻ ngốc, ngươi giống như tượng muối luôn đứng ở Y-sơ-ra-ên. Những kẻ như vậy là vô dụng, vô tích sự! Một số người chỉ biết quy phục một cách mù quáng, họ luôn biết mình và luôn sử dụng những cách tự xử lý khi giải quyết những vấn đề mới, hoặc họ sử dụng “sự khôn ngoan” để xử lý những vấn đề tầm thường không đáng nhắc đến. Những người như vậy không có nhận thức, như thể bản chất của họ là cam chịu để được chọn, và họ luôn như vậy, họ không bao giờ thay đổi. Những người như vậy là những kẻ ngốc, thiếu ngay cả nhận thức tối thiểu nhất. Họ không bao giờ cố gắng để đưa ra các biện pháp phù hợp với những hoàn cảnh hoặc với những người khác nhau. Những người như vậy không có trải nghiệm. Ta đã thấy một số người bị trói buộc trong sự hiểu biết về bản thân đến nỗi khi đối mặt với những kẻ bị xâm chiếm bởi hoạt động của tà linh, họ cúi đầu và xưng tội, không dám đứng lên và lên án những kẻ này. Còn khi đối diện với công tác hiển nhiên của Đức Thánh Linh, họ không dám vâng lời. Họ tin rằng những ác linh này cũng nằm trong tay của Đức Chúa Trời, và không có chút can đảm nào để đứng lên và chống lại chúng. Những người như thế này mang ô nhục cho Đức Chúa Trời, và hoàn toàn không có khả năng gánh vác trọng trách cho Ngài. Những kẻ bù nhìn như vậy không tạo ra sự khác biệt dưới bất kỳ hình thức nào. Do đó, chúng ta nên loại bỏ phương pháp trải nghiệm như vậy, vì phương pháp đó không thể đứng vững trong mắt Đức Chúa Trời.
Luận bàn về đời sống hội thánh và đời sống thực
Con người ta cảm thấy rằng họ chỉ có thể cải hóa trong đời sống hội thánh, và nếu như họ không sống trong hội thánh thì cải hóa là điều bất khả thi, như thể sự cải hóa là điều bất khả thi trong đời sống thực vậy. Các ngươi có hiểu vấn đề ở đây không? Trước đây Ta đã bàn về việc đưa Đức Chúa Trời vào đời sống thực; đối với những người tin vào Chúa, đây là con đường dẫn đến hiện thực của lời Chúa. Thật vậy, đời sống hội thánh chỉ là một cách hữu hạn để hoàn thiện con người. Môi trường chính yếu để hoàn thiện con người vẫn là đời sống thực. Đây là sự thực hành và rèn luyện thực sự mà Ta đã bàn về, nó cho phép con người đạt được cuộc sống con người đúng nghĩa và sống trọn hình tượng của một con người đích thực trong cuộc sống hàng ngày. Một mặt, người ta phải học hỏi để nâng cao trình độ học vấn của chính mình, để hiểu lời Chúa và đạt tới khả năng tiếp nhận. Mặt khác, họ phải được trang bị kiến thức cơ bản cần có để sống như một con người nhằm có được cái nhìn sâu sắc và lý trí của nhân tính đúng nghĩa, bởi vì con người gần như hoàn toàn thiếu sót trong các lĩnh vực này. Hơn nữa, người ta cũng cần phải bắt đầu nếm trải lời Chúa thông qua đời sống hội thánh và dần dần đi đến hiểu biết rõ ràng về lẽ thật.
2020-05-01
Mười sắc lệnh quản trị phải được vâng phục bởi dân sự được Chúa chọn trong Thời đại Vương quốc
1. Con người không nên phóng đại, hay đề cao chính mình. Họ nên thờ phượng và tôn vinh Đức Chúa Trời.
2. Làm mọi việc có lợi cho công tác của Đức Chúa Trời và không làm điều gì bất lợi cho công tác của Đức Chúa Trời. Bảo vệ danh Chúa, chứng ngôn của Chúa, và công trình của Chúa.
3. Tiền bạc, vật chất, và mọi tài sản trong nhà Chúa là những của lễ nên được dâng kính bởi con người. Những của lễ này không thể được thụ hưởng bởi ai khác ngoài thầy tế lễ và Đức Chúa Trời, vì những của lễ của con người là để Đức Chúa Trời thụ hưởng. Đức Chúa Trời chỉ chia sẻ những của lễ này với thầy tế lễ; không ai khác đủ tư cách hay được phép hưởng thụ bất cứ phần nào trong đó. Tất cả của lễ của con người (bao gồm tiền bạc và vật chất có thể hưởng thụ được) được dâng lên cho Đức Chúa Trời, chứ không phải cho con người, và vì thế những thứ này không nên được hưởng thụ bởi con người; nếu con người hưởng thụ chúng, thì khi đó họ đang đánh cắp các của lễ. Bất kỳ ai làm điều này đều là Giu-đa, vì ngoài việc là một kẻ phản bội, Giu-da còn tự lấy những thứ trong túi tiền cho bản thân.
4. Con người có tâm tính bại hoại và hơn nữa còn bị cảm xúc chi phối. Vì thế, tuyệt đối nghiêm cấm hai thành viên khác giới làm việc cùng nhau mà không có ai đi kèm khi phụng sự Đức Chúa Trời. Bất kỳ ai bị phát hiện làm như vậy sẽ bị khai trừ, không có ngoại lệ.
5. Không được phán xét Đức Chúa Trời hay thảo luận bừa bãi những vấn đề liên quan đến Đức Chúa Trời. Làm những việc con người phải làm, và nói những gì con người phải nói, và không được vượt quá những giới hạn hay vi phạm các ranh giới. Coi chừng miệng lưỡi của bản thân và cẩn thận nơi ngươi bước để tránh làm bất cứ việc gì xúc phạm đến tâm tính của Đức Chúa Trời.
6. Làm những điều con người cần phải làm, và thực hiện các nghĩa vụ của mình, làm tròn những trách nhiệm của mình, và giữ vững bổn phận của mình. Khi tin vào Đức Chúa Trời, ngươi nên đóng góp cho công tác của Đức Chúa Trời; nếu không làm vậy thì ngươi không xứng để ăn uống lời Chúa, và không xứng để ở trong nhà Chúa.
7. Trong công việc và những vấn đề của hội thánh, bên cạnh việc vâng phục Đức Chúa Trời, phải tuân theo những hướng dẫn của người được Đức Thánh Linh sử dụng trong mọi việc. Sự vi phạm dù nhỏ nhất cũng không được chấp nhận. Phải tuyệt đối tuân phục, và không được phân tích đúng sai; việc đúng hay sai không liên quan gì đến ngươi. Ngươi chỉ cần quan tâm đến việc hoàn toàn vâng phục.
8. Những người tin vào Đức Chúa Trời nên vâng phục Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài. Không được đề cao hay kính trọng bất kỳ ai; không được xếp Đức Chúa Trời thứ nhất, những người mà ngươi kính trọng thứ hai, và bản thân ngươi thứ ba. Không người nào được giữ vị trí trong lòng ngươi, và ngươi không được xem con người - đặc biệt những ai mà ngươi tôn sùng - ngang hàng với Đức Chúa Trời hay tương đương với Ngài. Điều này là không thể dung thứ với Đức Chúa Trời.
9. Giữ suy nghĩ của mình về công việc của hội thánh. Đặt sang một bên những tiền đồ của xác thịt bản thân, quyết đoán về các vấn đề gia đình, hết lòng dâng mình cho công tác của Đức Chúa Trời, và đưa công tác của Đức Chúa Trời lên hàng đầu và đời sống của chính ngươi hàng thứ hai. Đây là khuôn phép của một thánh hữu.
10. Những người thân không có đức tin (con cái, vợ chồng, anh chị em hay cha mẹ ngươi, v.v.) không nên bị ép buộc vào hội thánh. Nhà của Chúa không thiếu thành viên, và không cần phải tăng số lượng bằng những người không có ích gì. Tất cả những ai không hân hoan tin thì không được dẫn dắt vào hội thánh. Sắc lệnh này dành cho tất cả mọi người. Các ngươi nên kiểm tra, giám sát và nhắc nhở lẫn nhau về vấn đề này; không ai được vi phạm. Kể cả khi những người thân không có đức tin miễn cưỡng bước vào hội thánh, họ không được phát sách hay ban cho một danh mới; những người như vậy không thuộc về nhà Chúa, và sự gia nhập của họ vào hội thánh phải được chặn lại bằng bất cứ giá nào. Nếu rắc rối xảy ra với hội thánh vì sự tấn công của ma quỷ, thì bản thân ngươi sẽ bị trục xuất hoặc bị áp đặt những giới hạn. Nói tóm lại, mọi người đều có trách nhiệm trong vấn đề này, nhưng ngươi không được khinh suất hay dùng nó để trả thù riêng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



