Thực ra, công tác đang được thực hiện hiện nay là để mọi người từ bỏ Sa-tan, từ bỏ tổ tiên cũ của họ. Tất cả những sự phán xét bởi lời đều nhằm vạch trần tâm tính bại hoại của nhân loại và cho phép mọi người hiểu được bản chất của cuộc sống. Tất cả những sự phán xét lặp đi lặp lại này đều xuyên thấu lòng người. Mỗi sự phán xét đều tác động trực tiếp đến số phận của họ và nhằm mục đích làm tổn thương lòng họ để họ có thể buông bỏ tất cả những điều đó và nhờ đó biết về cuộc sống, biết thế giới ô trọc này, cũng biết sự khôn ngoan và toàn năng của Đức Chúa Trời và biết nhân loại bị bại hoại bởi Sa-tan này. Càng chịu sự trừng phạt và phán xét kiểu này, lòng người càng có thể bị tổn thương và tâm thần của họ càng có thể được thức tỉnh. Việc thức tỉnh tâm thần của những người cực kỳ bại hoại và bị lừa dối sâu sắc nhất này là mục tiêu của kiểu phán xét này. Con người không có tâm thần, nghĩa là, tâm thần của người đó đã chết từ lâu và người đó không biết rằng có Thiên đàng, không biết rằng có một Đức Chúa Trời, và chắc chắn không biết rằng mình đang phải vật lộn trong vực thẳm của sự chết; làm sao người đó có thể biết rằng mình đang sống trong địa ngục trần gian xấu xa này? Làm sao người đó có thể biết rằng thi hài mục nát này của mình, thông qua sự bại hoại của Sa-tan, đã sa vào âm phủ của sự chết? Làm sao người đó có thể biết rằng mọi thứ trên đất từ lâu đã bị hủy hoại bởi nhân loại đến mức không thể sửa chữa? Và làm sao người đó biết rằng Đấng Tạo Hóa đã đến trần gian ngày nay và đang tìm kiếm một nhóm người bại hoại mà Ngài có thể cứu được? Thậm chí sau khi con người trải qua mọi sự tinh luyện và phán xét có thể, ý thức u ám của người đó hầu như vẫn không lay động và hầu như không phản ứng. Nhân loại thật quá suy đồi! Mặc dù kiểu phán xét này giống như cơn mưa đá hung tợn từ trên trời rơi xuống, nhưng nó lại có lợi cho con người nhất. Nếu không phán xét mọi người như vậy, thì sẽ không có kết quả và sẽ hoàn toàn không thể cứu được con người ra khỏi vực thẳm của sự khốn khổ. Nếu không có công tác này, sẽ rất khó để mọi người thoát ra khỏi âm phủ vì lòng họ đã chết từ lâu và tâm thần của họ đã bị Sa-tan chà đạp từ lâu. Việc cứu các ngươi, là những người đã chìm xuống những vực thẳm sâu nhất của sự suy đồi, đòi hỏi phải kêu gọi các ngươi một cách vất vả, phán xét các ngươi một cách vất vả, và chỉ sau đó tấm lòng băng giá của các ngươi mới được thức tỉnh.
2020-05-29
2020-05-28
Bản chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào
Đức Chúa Trời trong lần nhập thể đầu đã sống trên đất trong ba mươi ba năm rưỡi, và trong những năm đó Ngài thi hành chức vụ của Ngài chỉ trong ba năm rưỡi. Ngài sở hữu một nhân tính bình thường trong suốt thời gian Ngài làm việc và cả trước khi Ngài bắt đầu công tác của Ngài; Ngài sống trong nhân tính bình thường của Ngài trong ba mươi ba năm rưỡi. Trong suốt ba năm rưỡi cuối cùng, Ngài đã tỏ lộ chính Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể. Trước khi Ngài bắt đầu thi hành chức vụ của mình, Ngài xuất hiện với một nhân tính bình thường và bình dị, không tỏ dấu hiệu nào về thần tính của Ngài, và chỉ sau khi Ngài chính thức bắt đầu thi hành chức vụ của mình thì thần tính của Ngài mới được biểu lộ. Cuộc đời và công việc của Ngài trong suốt hai mươi chín năm đầu chứng minh rằng Ngài là một con người thực sự, một Con người, và một thân thể xác thịt, bởi chức vụ của Ngài chỉ chính thức bắt đầu sau tuổi hai mươi chín. “Sự nhập thể” là sự xuất hiện của Chúa trong xác thịt; Chúa làm việc giữa loài người thọ tạo trong hình ảnh của xác thịt. Vì vậy để Đức Chúa Trời nhập thể được, thì trước tiên Ngài phải trở nên xác thịt, một xác thịt với nhân tính bình thường; đây là điều kiện tiên quyết cơ bản nhất. Trên thực tế, sự nhập thể của Chúa có hàm ý rằng Chúa sống và làm việc trong xác thịt, rằng Chúa trong chính bản chất của mình trở nên xác thịt, trở nên một con người. Đời sống và công tác trong xác thịt của Ngài có thể được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là đời sống mà Ngài sống trước khi thi hành chức vụ của mình. Ngài sống trong một gia đình của con người bình thường, trong một nhân tính hoàn toàn bình thường, tuân theo các đạo lý và luật lệ bình thường trong đời sống con người, với những nhu cầu bình thường của con người (thực phẩm, quần áo, sự nghỉ ngơi, nơi cư trú), có những khiếm khuyết và cảm xúc của con người bình thường. Nói cách khác, trong giai đoạn đầu tiên này Ngài sống trong nhân tính hoàn toàn bình thường, không mang thần tính, tham gia vào tất cả những hoạt động bình thường của con người.
Thật sự là, người Y-sơ-ra-ên không bị thất vọng; chúng đã thấy công tác do Đức Chúa Trời thực hiện trong sáu ngàn năm qua, vì Ta đã không bỏ rơi chúng. Đúng hơn là, vì tổ tiên chúng đã ăn trái từ cây biết thiện ác, do ma quỷ trao cho chúng, nên chúng đã ruồng rẫy Ta mà chạy theo tội lỗi. Sự thiện luôn thuộc về Ta, còn sự ác thì thuộc về ma quỷ, kẻ lừa dối Ta vì tội lỗi. Ta không trách con người, cũng không nhẫn tâm tiêu diệt chúng và trừng phạt chúng cách tàn nhẫn, vì sự ác ban đầu không thuộc về nhân loại. Bởi vậy, dù cho dân Y-sơ-ra-ên đã công khai đóng đinh Ta trên thập giá, nhưng mà chúng, những kẻ chờ đợi Đấng Mê-si và Đức Giê-hô-va, và khao khát Đấng Cứu Độ Jêsus, chưa hề quên lời hứa của Ta: Vì Ta đã không ruồng rẫy chúng. Xét cho cùng, Ta đã đổ máu ra làm chứng cho giao ước mà Ta đã thiết lập với nhân loại; sự thật này đã trở thành “huyết ước” ghi khắc trong lòng của những kẻ non nớt và vô tội, như một dấu ấn và đồng phụ thuộc trường cửu như trời và đất. Vì Ta chưa hề gian dối những linh hồn sầu muộn mà Ta đã tiền định, đã chọn lựa và về sau là cứu rỗi và thu phục, cũng là những kẻ đã yêu mến Ta hơn là yêu mến ma quỷ, chúng háo hức dự liệu sự trở lại của Ta và sốt sắng chờ đợi được diện kiến Ta. Vì Ta chưa hề xóa bỏ giao ước mà Ta đã thiết lập với chúng bằng máu, nên chẳng lạ gì khi chúng tha thiết chờ đợi. Ta sẽ đưa về lại những con chiên đã lạc mất suốt nhiều năm, vì Ta đã luôn yêu thương con người, đơn giản là các ác tính đã bị thêm vào sự thiện trong chúng. Ta sẽ thu phục những linh hồn tội nghiệp yêu mến Ta và những kẻ Ta đã yêu mến quá lâu rồi, nhưng làm sao Ta có thể đưa vào nhà Ta những kẻ ác chẳng hề yêu mến Ta và hành xử như kẻ địch thù? Ta sẽ không đưa vào vương quốc của Ta những hậu duệ của ma quỷ và con rắn vốn thù ghét, đối chọi, chống đối, công kích và nguyền rủa Ta, bất chấp giao ước Ta đã thiết lập bằng máu với nhân loại. Ngươi phải biết chính xác mục đích công tác của Ta là gì, và Ta thực hiện nó vì ai. Tình yêu của ngươi chứa đựng sự thiện hay sự ác? Hiểu biết của ngươi về Ta có giống như của Đa-vít và Môi-sê hay là không? Việc phục dịch của ngươi dành cho Ta có giống với việc phục dịch của Áp-ra-ham hay là không? Ngươi thật sự được Ta làm cho hoàn thiện, nhưng ngươi phải biết ngươi sẽ đại diện cho ai, cũng như sẽ chung phần hậu quả với ai. Suốt cuộc đời ngươi, trong cảm nghiệm của ngươi về công tác của Ta, ngươi có thu gặt được thành quả vui sướng và dồi dào không? Có sinh hoa trái và dồi dào không? Ngươi phải suy ngẫm về bản thân mình: Suốt nhiều năm ngươi đã nhọc công vì Ta, nhưng ngươi có từng đạt được gì không? Ngươi có từng được biến đổi hay đạt được gì không? Đổi lại những trải nghiệm gian khổ của ngươi, ngươi đã trở nên như Phi-e-rơ chịu đóng đinh, hay như Phao-lô bị đánh gục và đón nhận ánh sáng lớn lao chưa? Ngươi phải có được chút ý thức về những điều này. Ta không liên tục nói về hay chăm chú vào đời sống ngươi, vốn là thứ nhỏ hơn cả hạt cải và bé như hạt cát.
2020-05-24
Ngươi nên biết toàn thể nhân loại đã phát triển cho đến ngày nay như thế nào
Toàn bộ công tác được thực hiện suốt sáu nghìn năm đã dần thay đổi khi các kỷ nguyên khác nhau đến rồi đi. Những sự chuyển đổi trong công tác này được dựa trên tình hình chung của thế giới và những xu hướng phát triển của nhân loại nói chung; công tác quản lý chỉ dần thay đổi theo đó. Nó không phải đã được lên kế hoạch toàn bộ ngay từ buổi đầu tạo dựng. Trước khi thế giới được tạo dựng, hay không lâu sau đó, Đức Giê-hô-va vẫn chưa lên kế hoạch về giai đoạn đầu của công tác, giai đoạn luật pháp; giai đoạn thứ hai của công tác, giai đoạn ân điển; hay giai đoạn thứ ba của công tác, giai đoạn chinh phục, mà khi đó, Ngài bắt đầu trước tiên với một số con cháu của Mô-áp, và qua đây mà chinh phục toàn thể vũ trụ. Sau khi tạo dựng thế giới, Ngài chưa bao giờ phán những lời này, Ngài cũng chưa bao giờ phán chúng sau Mô-áp; quả thực, trước Lót, Ngài chưa bao giờ phán chúng. Toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời được thực hiện một cách tự phát. Đây chính xác là cách toàn bộ công tác quản lý sáu nghìn năm của Ngài đã phát triển; trước khi tạo dựng thế giới, Ngài chẳng hề viết ra một bản kế hoạch dưới dạng đại loại như “Biểu đồ tóm tắt sự phát triển của nhân loại”. Trong công tác của Đức Chúa Trời, Ngài bày tỏ Ngài là gì một cách trực tiếp; Ngài không vắt óc lập nên một kế hoạch. Dĩ nhiên, khá nhiều nhà tiên tri đã nói rất nhiều lời tiên tri, nhưng vẫn không thể nói rằng công tác của Đức Chúa Trời luôn là công tác của việc hoạch định chính xác; những lời tiên tri ấy được đưa ra theo công tác của Đức Chúa Trời vào thời đó. Toàn bộ công tác mà Ngài thực hiện là công tác thực tế nhất. Ngài thực hiện nó phù hợp với sự phát triển của mỗi kỷ nguyên, và dựa trên cách các sự việc thay đổi. Đối với Ngài, thực hiện công tác cũng giống như kê đơn chữa bệnh; trong khi thực hiện công tác, Ngài quan sát, và tiếp tục công tác theo những quan sát của Ngài. Trong mọi giai đoạn công tác của Ngài, Đức Chúa Trời có khả năng bày tỏ sự khôn ngoan và khả năng dư dật của Ngài; Ngài mặc khải sự khôn ngoan và thẩm quyền có thừa của Ngài tùy theo công tác của bất kỳ thời đại nào, và cho phép tất cả những người mà Ngài mang trở về trong thời đại đó được thấy toàn bộ tâm tính của Ngài. Ngài cung cấp cho các nhu cầu của con người theo công tác cần được thưc hiện ở mỗi thời đại, làm bất cứ công tác gì Ngài nên làm. Ngài chu cấp cho con người những gì họ cần dựa trên mức độ mà Sa-tan đã làm bại hoại họ. Điều này cũng giống như cách mà ban đầu khi Đức Giê-hô-va tạo ra A-đam và Ê-va, Ngài đã làm để cho phép họ biểu thị Đức Chúa Trời trên đất và hầu cho họ có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời giữa sự tạo dựng. Tuy nhiên, Ê-va đã phạm tội sau khi bị con rắn cám dỗ, và A-đam đã làm điều tương tự; trong vườn, cả hai người họ đã ăn trái của cây biết thiện và ác. Vì thế, Đức Giê-hô-va đã có thêm công tác để thực hiện đối với họ. Nhìn thấy sự trần truồng của họ, Ngài che thân họ bằng quần áo làm từ da thú. Sau đó, Ngài phán với A-đam: “Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi… cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi”. Với người nữ, Ngài phán: “Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi”. Từ đó trở đi, Ngài đuổi họ khỏi Vườn Địa Đàng và bắt họ sống ở ngoài, giống như con người hiện đại ngày nay đang sống trên đất. Khi Đức Chúa Trời tạo nên con người ngay từ buổi đầu, kế hoạch của Ngài không phải là để cho con người bị con rắn cám dỗ sau khi được tạo dựng rồi sau đó nguyền rủa con người và con rắn. Ngài thật ra đã không có một kế hoạch như thế; chỉ là cách sự việc tiến triển đã cho Ngài công tác mới để làm giữa sự tạo dựng của Ngài. Sau khi Đức Giê-hô-va đã thực hiện công việc này giữa A-đam và Ê-va trên đất, nhân loại tiếp tục phát triển trong vài nghìn năm, cho đến khi “Ðức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn; thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất, và buồn rầu trong lòng. … Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Ðức Giê-hô-va”. Vào lúc này, Đức Giê-hô-va đã có thêm công tác mới để làm, bởi nhân loại mà Ngài tạo dựng đã trở nên quá tội lỗi sau khi bị con rắn cám dỗ. Xét thấy những hoàn cảnh này, giữa toàn thể nhân loại, Đức Giê-hô-va đã chọn gia đình Nô-ê để được tha, và sau đó Ngài thực hiện công tác của Ngài là hủy diệt thế giới bằng một trận lụt. Nhân loại đã tiếp tục phát triển theo cách này đến tận ngày nay, ngày càng trở nên bại hoại, và đến lúc sự phát triển của nhân loại đạt tới cực điểm, thì điều đó sẽ có nghĩa là sự kết thúc của nhân loại. Từ buổi ban sơ mãi cho đến hồi kết của thế giới, lẽ thật bên trong công tác của Ngài đã, đang và sẽ luôn là con đường này. Cũng giống như cách con người sẽ được phân ra theo loại; hoàn toàn không phải là mỗi một người đều được định trước ngay từ đầu rằng sẽ thuộc về một phân nhóm nhất định; mà đúng hơn, mọi người sẽ dần được phân loại chỉ sau khi trải qua một quá trình phát triển. Cuối cùng, bất kỳ ai không thể được mang đến sự cứu rỗi hoàn toàn sẽ bị trả về cho “tổ tiên” của họ. Không điều gì trong công tác của Đức Chúa Trời giữa nhân loại được chuẩn bị sẵn khi tạo dựng thế giới cả; mà đúng hơn, chính sự phát triển của các sự vật đã để cho Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài giữa nhân loại từng bước một và theo cách hiện thực hơn, thực tế hơn. Ví dụ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã không tạo ra con rắn nhằm cám dỗ người nữ; đó không phải là kế hoạch cụ thể của Ngài, cũng không phải là điều Ngài đã chủ định trước. Người ta có thể nói rằng đây là một biến cố không lường trước. Do vậy, chính bởi vì điều này mà Đức Giê-hô-va đã đuổi A-đam và Ê-va khỏi Vườn Địa Đàng và thề sẽ không bao giờ tạo ra con người một lần nữa. Tuy nhiên, con người chỉ nhận ra sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trên nền tảng này. Cũng như Ta đã nói trước kia: “Ta sử dụng sự khôn ngoan của Ta dựa trên những mưu đồ của Sa-tan”. Cho dù nhân loại đã trở nên bại hoại như thế nào hay con rắn đã cám dỗ họ ra sao, Đức Giê-hô-va vẫn có sự khôn ngoan của Ngài; như thế, Ngài đã đang tiến hành công tác mới kể từ khi Ngài sáng thế, và không bước nào trong công tác này từng bị lặp lại cả. Sa-tan đã liên tục đưa những mưu đồ vào hành động, nhân loại đã liên tục bị Sa-tan làm cho bại hoại, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã không ngừng thực hiện công tác khôn ngoan của Ngài. Ngài không bao giờ thất bại, Ngài cũng không bao giờ ngưng làm việc, kể từ khi thế giới được tạo dựng. Sau khi con người bị Sa-tan làm cho bại hoại, Ngài tiếp tục hoạt động giữa họ để đánh bại hắn, kẻ thù là nguồn gốc cho sự bại hoại của họ. Trận chiến này đã ác liệt kể từ lúc bắt đầu, và sẽ còn tiếp tục cho đến khi tận thế. Khi thực hiện toàn bộ công tác này, Giê-hô-va Đức Chúa Trời không chỉ cho phép con người, những kẻ đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, nhận lãnh sự cứu rỗi vĩ đại của Ngài, mà còn cho phép họ thấy được sự khôn ngoan, toàn năng, và thẩm quyền của Ngài. Hơn nữa, cuối cùng, Ngài sẽ cho họ thấy tâm tính công chính của Ngài - hành phạt kẻ dữ và ban thưởng người lành. Ngài đã chiến đấu với Sa-tan đến tận hôm nay và chưa bao giờ bại trận. Điều này là vì Ngài là một Đức Chúa Trời khôn ngoan, và Ngài sử dụng sự khôn ngoan của Ngài dựa trên những mưu đồ của Sa-tan. Vì lẽ ấy, Đức Chúa Trời không chỉ làm cho mọi sự trên trời quy phục thẩm quyền của Ngài, mà Ngài còn làm cho mọi sự dưới thế được an lòng dưới bệ chân Ngài, và đặc biệt, Ngài làm cho kẻ dữ xâm chiếm và quấy nhiễu nhân loại rơi vào sự trừng phạt của Ngài. Những kết quả của toàn bộ công tác này được mang lại nhờ sự khôn ngoan của Ngài. Ngài chưa bao giờ tỏ lộ sự khôn ngoan của Ngài trước khi nhân loại hiện hữu, bởi Ngài không có kẻ thù trên trời, dưới đất, hay bất kỳ nơi đâu trong toàn vũ trụ, và không có thế lực bóng tối nào xâm chiếm bất cứ thứ gì trong tự nhiên. Sau khi tổng lãnh thiên thần phản bội Ngài, Ngài đã tạo ra nhân loại trên đất, và chính bởi nhân loại mà Ngài chính thức bắt đầu cuộc chiến nghìn năm với Sa-tan, tổng lãnh thiên thần - một cuộc chiến ngày càng nóng hơn theo từng giai đoạn tiếp nối. Sự toàn năng và khôn ngoan của Ngài hiện diện ở từng giai đoạn này. Chỉ khi đó mọi thứ trên trời và dưới thế mới chứng kiến sự khôn ngoan, toàn năng, và đặc biệt là tính hiện thực của Đức Chúa Trời. Ngài vẫn thực hiện công tác của Ngài theo cùng một cách thiết thực này cho đến ngày nay; thêm vào đó, khi Ngài thực hiện công tác của Ngài, Ngài cũng tỏ lộ sự khôn ngoan và toàn năng của Ngài. Ngài cho phép các ngươi nhìn thấy lẽ thật bên trong của từng giai đoạn công tác, thấy chính xác cách giải thích sự toàn năng của Đức Chúa Trời, và, hơn nữa, thấy được sự giải thích rốt ráo về tính hiện thực của Đức Chúa Trời.
Ba Ngôi có tồn tại không?
Sau khi lẽ thật về Jêsus trở nên xác thịt trở thành hiện thực, con người đã tin điều này: Không chỉ Đức Chúa Cha ở trên trời, mà còn có Đức Chúa Con, và thậm chí là Thần. Đây là quan niệm thông thường mà con người nắm giữ, rằng có một Đức Chúa Trời như thế này trên thiên đàng: một Đức Chúa Trời ba ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Tất cả nhân loại đều có những quan niệm này: Chúa là một Đức Chúa Trời, nhưng bao gồm ba phần, điều mà tất cả những kẻ cực kỳ cố chấp trong các quan niệm thông thường cho là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Chỉ khi ba phần đó hợp nhất mới là toàn thể Đức Chúa Trời. Không có Cha Thánh, Đức Chúa Trời sẽ không trọn vẹn. Tương tự, Đức Chúa Trời cũng sẽ không trọn vẹn nếu không có Đức Chúa Con hoặc Đức Thánh Linh. Theo các quan niệm của mình, họ tin rằng một mình Đức Chúa Cha hoặc một mình Đức Chúa Con không thể được xem là Đức Chúa Trời. Chỉ có Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh hợp lại mới có thể được xem là chính Đức Chúa Trời. Giờ đây, mọi tín đồ tôn giáo, và thậm chí mỗi người đi theo trong số các ngươi, đều giữ niềm tin này. Tuy nhiên, về việc liệu niềm tin này có chính xác hay không thì không ai có thể giải thích, vì các ngươi luôn chìm trong màn sương mù về các vấn đề của chính Đức Chúa Trời. Mặc dù đây là những quan niệm, nhưng các ngươi không biết liệu chúng đúng hay sai, vì các ngươi đã bị nhiễm nặng các quan niệm tôn giáo. Các ngươi đã chấp nhận quá sâu sắc những quan niệm thông thường về tôn giáo này, và chất độc này đã thấm quá sâu vào trong các ngươi. Do đó, trong vấn đề này các ngươi cũng đã không chống nổi ảnh hưởng nguy hại này, vì Đức Chúa Trời ba ngôi đơn giản là không tồn tại. Nghĩa là, Ba Ngôi gồm Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh đơn giản là không tồn tại. Đây đều là những quan niệm thông thường của con người, và những niềm tin sai lầm của con người.
2020-05-23
Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về sự phán xét và sửa phạt
Khi bị Đức Chúa Trời sửa phạt, Phi-e-rơ đã cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời! Xác thịt con bất tuân lệnh, và Chúa sửa phạt con, phán xét con. Con vui sướng trong sự sửa phạt và phán xét của Ngài, và thậm chí nếu Ngài không còn muốn con, trong sự phán xét của Ngài, con thấy rõ tâm tính công chính và thánh khiết của Ngài. Con bằng lòng khi Ngài phán xét con, để những kẻ khác có thể nhìn thấy tâm tính công chính trong sự phán xét của Ngài. Con chỉ mong rằng tâm tính công chính của Ngài có thể được thể hiện ra để muôn vật có thể nhìn thấy và con có thể yêu Chúa một cách thuần khiết hơn thông qua sự phán xét của Ngài và có được hình tượng giống một con người công chính. Sự phán xét này của Chúa là tốt đẹp vì đó chính là lòng nhân từ của Ngài. Con biết rằng trong con vẫn còn nhiều sự nổi loạn, và rằng con vẫn chưa xứng đáng để đến trước Chúa. Con ước Ngài thậm chí sẽ phán xét con nhiều hơn dù đó là thông qua nghịch cảnh hay những nỗi cùng cực; cho dù Ngài có làm gì đi chăng nữa thì điều đó vẫn đáng trân quý đối với con. Tình yêu thương của Chúa thật sâu rộng, và con sẵn lòng phó thác bản thân dưới sự định đoạt của Ngài mà không chút kêu than”. Đây là hiểu biết của Phi-e-rơ sau khi ông đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời và đây cũng là lời chứng về tình yêu của Phi-e-rơ dành cho Ngài. Giờ đây, các ngươi đã bị chinh phục - nhưng sự chinh phục đó biểu lộ ở các ngươi như thế nào? Một vài người nói rằng: “Sự chinh phục của tôi là sự nâng đỡ và ân điển tối thượng của Đức Chúa Trời. Chỉ đến bây giờ tôi mới nhận ra rằng cuộc đời con người thật trống rỗng và vô nghĩa. Con người dành trọn cuộc đời sống vội vã, sinh con đẻ cái và nuôi dưỡng thế hệ nối tiếp thế hệ con cháu và cuối cùng cũng chẳng còn lại gì. Giờ đây, chỉ sau khi được Đức Chúa Trời chinh phục, tôi mới thấy rằng sống như thế này chẳng mang lại chút giá trị gì; đó thực sự là một cuộc sống vô nghĩa. Tôi có lẽ nên chết đi và kết thúc mọi thứ!” Những người đã bị chinh phục như vậy liệu có thể được Đức Chúa Trời thu nhận không? Liệu họ có thể trở thành hình mẫu và kiểu mẫu được không? Những người như thế là một bài học về sự thụ động, họ không có khát vọng và không nỗ lực để cải thiện bản than. Mặc dù họ coi bản thân đã bị chinh phục, nhưng những người thụ động như vậy không thể trở nên hoàn thiện. Vào gần cuối đời, sau khi đã được hoàn thiện, Phi-e-rơ nói rằng: “Đức Chúa Trời ôi! Nếu được sống thêm vài năm nữa, con ước mình có thể có được tình yêu sâu đậm hơn và thuần khiết hơn dành cho Ngài”. Khi sắp bị đóng đinh vào thập giá, Phi-e-rơ cầu nguyện trong lòng: “Lạy Đức Chúa Trời! Thời khắc của Ngài đã tới, thời khắc Ngài chuẩn bị cho con đã tới. Con phải bị đóng đinh vì Chúa, con phải làm chứng cho Ngài, và con hi vọng rằng tình yêu của con có thể đáp ứng các yêu cầu của Ngài và rằng tình yêu đó có thể trở nên thuần khiết hơn. Giờ đây, con cảm thấy thoải mái và vững dạ khi có thể chết vì Chúa, và bị đóng đinh lên thập giá vì Ngài, bởi vì chẳng có gì khiến con thỏa lòng hơn là việc có thể bị đóng đinh vì Ngài, đáp ứng những mong mỏi của Ngài, và có thể dâng hiến bản thân, dâng hiến mạng sống của con cho Ngài. Lạy Chúa! Chúa thật đáng mến biết bao! Nếu Ngài cho con được sống, con sẽ càng nguyện yêu mến Ngài. Con sẽ yêu mến Ngài cho đến khi vẫn còn hơi thở. Con ước được yêu mến Chúa sâu đậm hơn. Ngài phán xét con, sửa phạt con, và thử thách con vì con không công chính, vì con đã gây ra tội lỗi. Và con đã hiểu rõ hơn tâm tính công chính của Ngài. Đây là phước lành với con, vì con có thể yêu Chúa sâu đậm hơn, và con nguyện lòng yêu Ngài theo cách này ngay cả khi Ngài không yêu thương con. Con sẵn lòng nhìn ra tâm tính công chính của Chúa, vì điều này khiến con càng có thể theo đuổi một cuộc sống có ý nghĩa. Con thấy rằng cuộc sống của con giờ đây có ý nghĩa hơn, bởi vì con bị đóng đinh vì Chúa, và được chết vì Ngài là một điều ý nghĩa. Nhưng con vẫn không thấy thỏa lòng, vì con biết quá ít về Chúa, con biết rằng con không thể hoàn toàn đáp ứng những mong mỏi của Ngài, và con mới đền đáp được quá ít cho Ngài. Trong đời con, con vẫn chưa thể trọn vẹn quay về bên Chúa; điều đó còn quá xa vời với con. Khi nhìn lại khoảnh khắc này, con thấy mình mắc nợ Ngài quá nhiều, và con chỉ có thời khắc này để bù đắp cho tất cả những sai lầm và tất cả tình yêu mà con chưa đền đáp được cho Ngài”.
2020-05-21
Trailer Phim tài liệu Cơ Đốc | Công tác quản lý của Chúa luôn tiến về phía trước
Trailer Phim tài liệu Cơ Đốc | Công tác quản lý của Chúa luôn tiến về phía trước
Khi tổ tiên của loài người, Adam và Eva, bị Sa-tan làm sa ngã, Chúa bắt đầu quản lý công tác cứu rỗi nhân loại. Kể từ đó, Ngài làm việc không ngừng nghỉ: Ngài ban hành luật pháp để chỉ dẫn loài người, và Ngài đích thân đến giữa con người để bị đóng đinh trên cây thập giá và cứu chuộc loài người, và trong những ngày sau rốt, Ngài tiếp tục công việc của mình, và hoàn thành những lời tiên tri trong Kinh Thánh: “Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ” (Giăng 14:2) .“Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm” (Khải Huyền 22:12).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

